Công việc phiên dịch Tam Tạng giáo điển từ tiếng Phạn ra chữ Hán ở Trung Hoa đã được hầu hết các triều đình bảo trợ. Từ thời Ngô Tôn Quyền thuộc đời Tam Quốc cho tới cuối đời Thanh, triều đình thường cho xây dựng một cơ sở rộng lớn dùng để làm nơi phiên dịch. Việc phiên dịch kinh điển Phật giáo ra chữ Hán đã làm giàu thêm rất nhiều thành ngữ và từ ngữ mới cho tiếng Hán cổ, theo ước tính của một nhà ngôn ngữ Tàu thì Phật giáo đã đem đến 35.000 tiếng mới cho tiếng Hán cổ.
Trong lịch sử Trung Hoa, có rất nhiều vị vua rất mộ đạo Phật, ngay cả Vua Tắc Thiên Võ Hậu cũng rất sùng kính và hết lòng hỗ trợ Mật giáo. Nhờ vậy Phật giáo đã được truyền bá rộng rãi ở Trung Hoa. Phật giáo đã chinh phục được giới trí thức Trung Hoa trên bình diện tư tưởng, và chinh phục được đại chúng trên bình diện tín ngưỡng.
Có thể bạn quan tâm: Chú Lăng Nghiêm: Bí Mật Của Chân Kinh Trong Phật Giáo
Những khó khăn ban đầu trong việc dịch thuật kinh điển Phật giáo
Việc phiên dịch kinh điển Phật giáo lúc đầu đã gặp nhiều khó khăn do những lý do chính sau đây. Trước nhất là ngôn ngữ Trung Hoa và Ấn độ hoàn toàn khác nhau, trong khi các ngôn ngữ ở vùng Trung Á thì có nhiều điểm tương tợ với Ấn độ. Ngôn ngữ Trung Hoa thì giản dị, ngắn gọn, thực tiễn, còn ngôn ngữ Ấn độ thì có tính bóng bẩy, trừu tượng.
Từ ngữ Trung Hoa không có một hệ thống văn phạm cứng nhắc, còn từ ngữ Ấn độ có những qui tắc văn phạm được qui định rõ ràng. Quan niệm triết học thì cũng khác xa. Trung Hoa chú trọng vào gia đình, giá trị đạo đức của con người thì lấy gia đình làm căn bản, còn Phật giáo thì chủ trương mở rộng ra khỏi ranh giới của gia đình, của quốc gia, của chủng tộc.
Có những chữ không tìm được chữ tương đương trong tiếng Trung Hoa, các dịch giả đã phiên âm từ tiếng Sanskrit như: -đà-la-ni phiên âm dharani, nghĩa là thần chú, chân ngôn;-sát-na phiên âm ksana, nghĩa là đơn vị thời gian ngắn nhất;- niết-bàn, đầy đủ chữ là niết-bàn-na phiên âm nirvana (tiếng Sanskrit, Pali: nibbana); – thuần-nhã-đa phiên âm sunyata, sau này dịch là hư không, chơn không, tánh không;- Phật đầy đủ chữ là Phật-đà phiên âm Buddha (tiếng Sanskrit, tiếng Pali: Buddha, nghĩa là bậc đã giác ngộ và giải thoát hoàn toàn ); -La-hán đủ chữ là A-la-hán phiên âm Arahat (tiếng Sanskrit, Pali: Arahant); – Bồ-tát,đầy đủ chữ là Bồ-đề-tát-đỏa phiên âm Bodhisattva;-Đạt-ma phiên âm Dharma nghĩa là giáo pháp của Đức Phật, Chánh pháp; – Tăng, đầy đủ chữ là tăng-già phiên âm Samgha (tiếng Sanskrit, tiếng Pali: Sangha) nghĩa là nam giáo sĩ Phật giáo, còn có nghĩa là Giáo hội/giáo đoàn Phật giáo; -ni hay ni cô đủ chữ là Tì-kheo-ni phiên âm Bhikkhuni (tiếng Pali), nữ giáo sĩ Phật giáo.
Hành trình truyền bá Phật giáo đến Trung Hoa
Phật giáo được truyền đến Trung Hoa vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên do hai con đường: đường bộ và đường biển. Con đường bộ còn gọi là con đường tơ lụa (ti trù chi lộ 丝 绸 之 路 , silk routes): đây là con đường giao thông buôn bán giữa Trung Hoa và các nước ở phía Tây Trung Hoa được vua Võ Đế đời Tiền Hán cử Trương Phiên khai phá vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước CN.
Con đường này có hai trục lộ: một trục lộ ở phía Bắc và một trục lộ ở phía Nam. Con đường phía Bắc: Trục lộ phía Bắc phát khởi từ Đôn Hoàng, Ngọc Môn rồi nương theo chân núi Thiên Sơn, qua các nước Hami (Y Ngô), Turfan (Cao Xương), Karashar (Yên Kỳ), Kucha (Khâu Tư), Turfan (Cô Mặc), Ush (Ôn Túc) đến Kashgar (Sở Lạc) nối liền trục lộ phía Nam để đi tới Ấn độ.
Con đường phía Nam: Trục lộ phía Nam bắt đầu từ Đôn Hoàng và Ngọc Môn thuộc địa phận Trung Hoa, rồi nương theo chân núi Côn Lôn qua các nước Lop Nor, Khotan (Vu Điền), Yarland (Xa Sa) đến Kashgar (Sở Lạc). Từ Kashgar vượt qua núi Thông Lĩnh để đi tới phía Bắc Ấn độ.

Có thể bạn quan tâm: Kinh Phật Chú Đại Bi Tiếng Việt: Ý Nghĩa, Lợi Ích Và Hướng Dẫn Đọc
Giai đoạn phát triển rực rỡ
Thời đại Đông Tấn (317-420): Tây Tấn suy yếu, nên năm 316, bộ tộc Hung Nô từ phương Bắc tràn xuống đánh phá và tiêu diệt nhà Tây Tấn. Hung Nô chiếm vùng Giang Bắc (tức phía Bắc sông Trường Giang), thành lập nước Ngụy, sử Tàu gọi là Tiền Triệu. Lúc ấy, Tư Mã Duệ, thuộc hoàng tộc Tây Tấn, đem quân lui về Giang Nam (tức phiá Nam sông Trường Giang), tự xưng vua, lập nên vương triều Đông Tấn, đóng đô ở thành Kiến Khang (Nam Kinh ngày nay).
Phật giáo phát triển mạnh ở 2 vùng Giang Bắc và Giang Nam: Các Đại sư đã dịch hầu hết các Kinh, Luật, Luận của Phật giáo Nguyên thuỷ/Theravada. Bốn bộ kinh trọng yếu của Phật giáo Đại thừa/Phật giáo phát triển cũng được dịch ra chữ Hán, tuy chưa dịch được trọn vẹn các quyển kinh, sau này các Đại sư khác đã tiếp tục hoàn tất: Bát-Nhã, Pháp Hoa, Niết-Bàn, Hoa Nghiêm.
Đạo An (道 安, 312 – 385) cải đổi họ là Thích: Ngài là người tỉnh Hà Bắc, xuất gia lúc 12 tuổi, rất thông minh. Ngài đã hiểu thấu đáo các lời giảng của thầy mình là Ngài Phật-đồ-Trừng. Ngài đem những điều mình đã học để giảng lại đại chúng. Trong lúc loạn lạc vào thời Hậu Triệu, Ngài cùng đệ tử là Tuệ Viễn cùng với 500 người đi về phương Nam, tới Tương Dương (tỉnh Hồ Bắc), Ngài trụ trì tại chùa Đàn Khê.
Rất nhiều người kéo đến để học tập Phật Pháp, tiếng tâm của Ngài đã lừng lẫy khắp nơi. Vua Phù Kiên nghe biết tiếng Đạo An, muốn mời Ngài về phụ chính nên đem 10 vạn quân tiến đánh Tương Dương để đón Ngài về Tràng An. Ngài là một nhân vật rất quan trọng vào thời ấy.
Tinh hoa dịch thuật và lý thuyết phiên dịch
Ngài Đạo An đã đưa ra lý thuyết về dịch thuật (theory of translation) kinh điển Phật giáo ra chữ Hán. Ngài Đạo An nhấn mạnh đến sự kiện dễ làm mất nguyên nghĩa khi phiên dịch, đó là thuyết Ngũ thất bản (五失本,the Five Forms of Loss ):
a. Do văn pháp khác nhau nên văn từ giữa nguyên ngữ (Sanskrit word) và Hán ngữ bị đảo ngược (thay đổi thứ tự của chữ, changing the word order) b. Văn thể của nguyên điển thì chất phác (plain style) trong khi Hán ngữ thì súc tích.
c. Nguyên điển thường có nhiều câu lập đi lập lại, khi dịch ra chữ Hán thì phải cắt bỏ những câu trùng lặp.
d. Trong nguyên điển thường xen lẫn lời chú giải, trong bản dịch chữ Hán thì phải cắt bỏ những lời chú giải, và tóm tắt lại. e. Trong nguyên bản kinh điển, khi đã nói xong một sự việc nào rồi, và khi bước sang sự việc kế tiếp lại thường hay lặp lại những điều đã nói ở phía trước, nên bản dịch Hán văn phải cắt bỏ chỗ nhắc lại.
Ngài Đạo An còn mở rộng ra thêm lý thuyết về dịch thuật để đề cập đến sự khó khăn của việc phiên dịch qua thuyết ba sự kiện khó khăn: Tam bất dị (三不易, the theory of Three Difficulties ):
a. Đức Phật đã thuyết pháp cho những người nghe bằng ngôn ngữ và phong cách của người đương thời,nhưng với thời gian và không gian thay đổi thì quả thật rất khó để dịch cho độc giả hoặc thính giả đương thời.
b. Sự phiên dịch quả rất khó đối với các pháp âm vi diệu (the words of a saint) ra những từ ngữ phàm phu và để cho thích hợp với phong tục của kẻ hậu thế.
c. Các kinh văn được truyền tụng từ kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất rồi kinh văn này đã trải qua các lần ghi chép, hiệu đính lại bởi các bậc cao tăng và của môn sinh của họ trải qua nhiều thế hệ thì việc phiên dịch cho đúng ý nghĩa thật là khó để không tránh khỏi sai lầm.
Đại sư Huyền Trang và lý thuyết dịch thuật hoàn hảo
Ngài Huyền Trang (玄奘,600 – 664): người Lạc Dương (tỉnh Hà Nam), họ Trần. Cha là quan đầu tỉnh đời Tuỳ Dạng Đế (trị vì 604 – 618). Ngài xuất gia lúc 13 tuổi, ở chùa Tịnh Độ. Ngài đi chu du nhiều nơi ở Trung Hoa để tìm thầy học đạo. Nhưng Ngài muốn nghiên cứu sâu rộng về giáo nghĩa của đạo Phật nên Ngài quyết chí “Nhập Trúc Cầu Pháp”.
Năm 629, Ngài lên đường đi tới Ấn độ, trải qua rất nhiều gian nan và nguy hiểm. Ngài đã tới được chùa Nalanda (Na-lan-đà), đây là tu viện chính của Phật giáo Đại thừa/ Phật giáo Phát triển, nơi quy tụ nhiều cao tăng có kiến thức uyên bác về đạo Phật, do Ngài Silabhadra (Giới Hiền) chỉ đạo.
Huyền Trang đã xin làm đệ tử Ngài Giới Hiền để học hỏi về Duy thức học (Yogacara). Sau đó Ngài tiếp tục chu du nhiều nơi ở Ấn độ, Ngài sưu tầm được nhiều kinh văn bằng tiếng Phạn, trong đó có nhiều kinh luận của Thượng Toạ Bộ/ Phật giáo nguyên thuỷ, Phật giáo Đại thừa/ Phật giáo Phát triển và các sách triết học của các triết gia, các kinh sách của các tôn giáo khác. Thêm vào đó, Ngài còn thỉnh nhiều tượng Phật và xá lợi Phật.
Năm 645, Ngài trở về Tràng An. Thời gian “Nhập Trúc Cầu Pháp” của Ngài ở Ấn độ kéo dài tới 17 năm trời. Vua Đường Thái Tông đón Ngài về , và thiết lập Viện Phiên Dịch, có tầm vóc quốc gia, ở chùa Từ Ân để Ngài phiên dịch các kinh, luật, luận. Ngài trông nom một Ban phiên dịch được tổ chức quy mô trong trật tự gồm có rất đông các bậc danh tăng phụ giúp cùng với những quan văn cao cấp tham gia.
Ngài Huyền Trang đã đưa ra lý thuyết về dịch thuật (theory of translation): theo Ngài có 5 trường hợp phải giữ nguyên âm thanh tiếng Phạn mà không dịch ra chữ Hán, đó là lý thuyết “ngũ chủng bất phiên” (五種不翻,theory of five kinds of untranslatable words):
Những chữ có ý nghĩa sâu xa, mầu nhiệm,bí mật thì không dịch. Ví dụ đà-la-ni (dharani), hay như các câu thần chú/chân ngôn (mantra, dharani) là ngôn ngữ bí mật, là chân ngôn của chư Phật, của chư Bồ tát thì không dịch, mà chỉ phiên âm :Yết Đế Yết Đế Ba La Yết Đế Ba La Tăng Yết Đế Bồ Đề Tát-Bà-Ha (Gate Gate Pāragate Pārasaṃgate Bodhi Svāhā).
Những chữ có nhiều nghĩa thì không thể dịch, bởi vì nếu dịch ra chữ Hán thì chỉ có một nghĩa còn các nghĩa khác thì bị mất nghĩa. Huyền Trang đã đưa ra ví dụ như chữ Bhagavat có nhiều nghĩa, nên chỉ phiên âm là Bạc-già-phạm. Bhagavat có những nghĩa sau đây:
a. Bậc đã có nhiều dấu hiệu tốt lành, Thế Tôn; b. Bậc hàng phục được chúng ma; c. Bậc đã giải thoát khỏi mọi ràng buộc; d. Bậc đã thấu hiểu hoàn toàn “Tứ Diệu Đế” (Four Noble Truths); e. Bậc đã trải nghiệm nhiều thành tựu siêu việt; f. Bậc đã xuất hữu hoại (one who has abandoned the wandering of transmigration).Chữ Bhaga (ở trong kinh Bhagavad Gita) chỉ phiên âm là Bạc-già vì có nhiều nghĩa như: dễ chịu, tên (name), may mắn, kính trọng.
Không dịch những chữ mà Trung Hoa không có những vật tương đương, như địa danh, tên cây cối, thú vật không được biết ở Trung Hoa : -núi Lăng-già (núi Lanka, ở nước Tích Lan/Sri Lanka), -chùa Na-lan-đà (Nalanda),-cây đa-la (cây tala/ tara, có lá dùng để chép kinh điển Phật giáo ngày xưa, người Tàu gọi ngắn là bối diệp (lá bối),-cây diêm-phù (cây Jambu, chỉ trồng ở Ấn độ, không có trồng ở Tàu),-chim ca-lăng-tần-già (chim karavinka).

Kinh Phật Chữ Hán Có thể bạn quan tâm: Kinh Phật Chú Đại Bi Là Gì? Ý Nghĩa Và Lợi Ích Trong Đời Sống Tinh Thần
Không dịch các chữ mà các bản dịch cổ xưa đã phiên âm (untranslatable words had traditionally been transliterated, that is, transcribed phonetically). Ví dụ: A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề (Anuttara Samyak Sambodhi), chữ này có nghĩa là giác ngộ tột đỉnh (Supreme enlightenment ), quả vị của Đức Phật; sau này dịch là Vô thượng chánh đẳng chánh giác. [Vô thượng (anuttara, a-nậu-đa -la) nghĩa là tột đỉnh, không có gì cao hơn; chánh đẳng (samyak, tam- miệu) nghĩa là nơi chân chánh, thật bình đẳng; chánh giác (sambodhi, tam-bồ-đề) nghĩa là giác ngộ chân chánh, tuyệt đỉnh, không có điều giác nhộ nào hơn].- Phật đầy đủ là Phật-đà (Buddha).
Không dịch các chữ mà nó sẽ mất ý nghĩa đặc thù của nó nếu dịch ra chữ Tàu mà chỉ cần phiên âm. Ví dụ: – bát-nhã (prajna) thay vì dịch “trí tuệ”, – Niết-bàn (Nirvana).
Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa Trung Hoa
Việc phiên dịch kinh điển Phật giáo ra chữ Hán đã làm giàu thêm rất nhiều thành ngữ và từ ngữ mới cho tiếng Hán cổ, theo ước tính của một nhà ngôn ngữ Tàu thì Phật giáo đã đem đến 35.000 tiếng mới cho tiếng Hán cổ. Peter Hu, Associate Professor of English at the University of Jiangsu, China, đã viết: “It is this openness that continually enriches the language. Chinese also likes to borrow from other languages. Old Chinese borrowed 35,000 words from Buddhism, and Modern Chinese has absorbed countless words from Western civilizations.”
Phật giáo đã chinh phục được giới trí thức Trung Hoa trên bình diện tư tưởng, và chinh phục được đại chúng trên bình diện tín ngưỡng. Các nhà Nho, các Đạo gia đã trở thành các nhà nghiên cứu Phật học, họ đã đem những kiến giải của đạo Phật vào các luận giải trong phái tân Nho học. Trong văn học thì có nhiều bài thơ chứa đựng nhiều thiền vị như thơ thiền đời Đường, thơ thiền đời Tống chứa đựng những triết lý về cuộc đời và người đời, về thân phận của kiếp người của Phật giáo.
Ngay cả các tiểu thuyết kiếm hiệp hiện đại của Kim Dung cũng chứa đựng những triết lý cao siêu của Phật giáo. Trong đại chúng, những quan niệm về nhân quả báo ứng, sinh tử luân hồi, hình ảnh đại từ đại bi của Đức Quán Thế Âm, của Phật A-di-đà, những khi thất bại hay gặp trở ngại trong cuộc đời họ đều nương tựa vào triết lý của đạo Phật.
Tác động xã hội và thay đổi văn hóa
Trong quan hệ Nam Nữ, Phật giáo đã ảnh hưởng rất sâu đậm trong xã hội Trung Hoa ngày xưa với quan niệm Nam Nữ bình đẳng: Khổng giáo phân biệt Nam Nữ: “Nam Nữ hữu biệt” (男 女 有 別 , Nam Nữ phải có sự phân biệt), thậm chí thư phòng của nhà Nho thì phụ nữ cũng không được bước vào. Khổng giáo quan niệm “Nam Nữ thọ thọ bất thân” (男女受受不亲 , trai gái tránh đụng chạm (da thịt) vì dễ sanh hoạ) nên buộc người phụ nữ phải cấm cung không được tiếp xúc với phái Nam, không được xuất hiện trước công chúng.
Phật giáo đã giải phóng địa vị xã hội của người phụ nữ với quan niệm Nam Nữ bình đẳng. Phật giáo đã phá vỡ bức màn ngăn cách việc phụ nữ tiếp xúc với nam giới. Nói khác đi, Phật giáo đã thay đổi trật tự xã hội của Nho giáo: đã thay đổi quan niệm về giới tính của Nho giáo. Lâm Ngữ Đường, nhà đại văn hào Trung Hoa cận đại, vào khoảng 1934 đã viết: “Giới hoà thượng Trung Hoa có nhiều cơ hội hơn các giới khác được thấy các bà, các cô sang trọng, diễm lệ. Trong khi tụng kinh, làm lễ, hoặc ở tư gia, hoặc ở chùa, ngày nào họ cũng tiếp xúc với phụ nữ, mà phụ nữ bình thời phải sống gần như cách biệt với xã hội. Khổng giáo chủ trương “nam nữ hữu biệt”, “nam nữ thụ thụ bất thân”, buộc phụ nữ phải cấm cung, và họ chỉ có mỗi một lý do chính đáng để xuất hiện giữa công chúng là lại chùa lễ Phật.
Ngày sóc và ngày vọng mỗi tháng, chùa là nơi hội họp của tất cả các “người đẹp” trong miền, có chồng hoặc chưa chồng, bà nào cô nào cũng trang điểm lộng lẫy. Nếu có một vị hoà thượng ăn lén thịt heo thì ta cũng có thể nghi ông ta làm lén những trò khác nữa.” [Lâm Ngữ Đường (Lin Yutang, 1895 – 1976), Nhân sinh quan và Thơ văn Trung Hoa, New York, 1934. Bản lược dịch của Nguyễn Hiến Lê, Saigon: Ca dao, 1970, tr.72 – 73]
Kiến trúc và nghệ thuật Phật giáo

Có thể bạn quan tâm: Kinh Phật Chú Đại Bi Có Chữ: Ý Nghĩa, Lợi Ích Và Hướng Dẫn Đọc Hiệu Quả
Kiến trúc chùa chiền và tháp Phật đã giúp cho kiến trúc Trung Hoa trở nên phong phú thêm: nhiều nghệ nhân ở Tây vực đã đến Trung Hoa để tạc tượng Phật, để khắc các bức tranh trong hang động. Cách kiến trúc này ít tốn kém nhân lực, vật lực và tài lực. Những bức tượng, bức ảnh điêu khắc trên vách đá có một nghệ thuật cao, nó đã giúp cho sự phát triển nghệ thuật điêu khắc ở Trung Hoa. Kiến trúc chùa chiền và tháp Phật là loại kiến trúc quan trọng ở Trung Hoa, chỉ đứng sau kiến trúc các cung điện.
Khổng miếu là nơi thờ Đức Khổng Tử (孔子 , 551 tr. C – 479 tr CN, Ngài là một nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà giáo dục ), được vua nước Lổ cho xây lần đầu tiên ở Trung Hoa tại thành phố Khúc Phụ (quê quán của Khổng tử), tỉnh Sơn Đông, Trung Hoa vào năm 479 trước CN để mỗi năm tới ngày giỗ của Ngài thì các nhà Nho đến thờ cúng. Khoảng 500 năm sau thì Hán Minh Đế cho xây ngôi chùa đầu tiên ở Trung Hoa là chùa Bạch Mã, ở thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Hoa. Ngày nay số lượng chùa chiền Phật giáo ở Trung Hoa thì nhiều hơn Khổng miếu vô số kể. Như vậy, đạo Phật đã phát triển rất nhanh chóng ở Trung Hoa.
Phật giáo ở các nước láng giềng
Phật giáo đã được truyền bá sang các nước láng giềng như Triều Tiên và Nhật Bản. Năm 372, vua Phù Kiên, đời Đông Tấn (Tsin) sai Ngài Thuận Đạo đem kinh và tượng Phật sang cho vua tiểu quốc Cao Cú Lệ là Tiểu Thú Lâm. Trong đó có tượng Bồ tát Di Lặc. Từ đó Phật giáo được phát triển, nhiều chùa chiền được xây dựng. Triều đình thì hổ trợ Phật giáo, dân chúng thì rất nhiều người tin Phật.
Năm 384, vị sư Ma-La-Nan-Đà từ Đông Tấn đem đạo Phật truyền bá sang Bách Tế. Vua Bách Tế là Á Tân Vương dạy dân hãy tin Phật. Nho giáo và Lão giáo cũng được truyền vào Bách Tế. Năm 541, vua Thánh Vương sai sứ sang nhà Đường của Trung Hoa thỉnh kinh thi của Nho giáo, nhiều kinh Phật như kinh Niết Bàn và các nghệ nhân giỏi v. v…
Nước Bách Tế theo tín ngưỡng Đức Phật Di Lặc. Vua ban hành sắc lệnh cấm sát sanh, thả tất cả gà vịt nuôi trong nhà, huỷ bỏ tất cả các dụng cụ săn thú và bắt cá; điều này chứng tỏ Phật giáo Bách Tế đã theo con đường tôn trọng giới luật của đạo Phật một cách triệt để. Năm 552, triều đình nước Bách Tế tặng cho Thiên Hoàng Khâm Minh (Kinmei) một tượng Phật Thích-ca bằng đồng, Phật giáo đã chính thức truyền vào Nhật Bản. Trong thật tế Phật giáo đã truyền vào dân chúng Nhật Bản từ Triều Tiên trước đó nhiều năm.
Đại Tạng Kinh và các công trình phiên dịch lớn
Đại Tạng Kinh (大 藏 經 , Ta-tsang-ching, Av. Great Storehouse Scripture) được hoàn thành dưới triều đại nhà Đường. Đại Tạng Kinh tiếng Hán là tổng hợp tất cả Tam Tạng kinh điển Phật giáo gồm: Kinh tạng (經藏 , Srt. Sutra Pitaka, Pa.Sutta Pitaka ), Luật tạng (律藏 , Srt. & Pa. Viyana Pitaka), Luận tạng ( 論藏 , Srt. Abhidharma Pitaka, Pa.Abhidhamma Pitaka). Sau đó các Đại sư còn hoàn thành “Đại Tạng Kinh” (大 藏 經 , Ta-tsang-ching, Av. Great Storehouse Scripture) .
“Đại Tạng Kinh” tiếng Hán là tổng hợp tất cả Tam Tạng kinh điển Phật giáo gồm: Kinh, Luật, Luận đã được dịch ra chữ Hán, là phần chính văn và là trọng tâm của bộ Đại Tạng Kinh; lại còn có các sách chú sớ, các luận, các giải thích, các du ký, ký sự v.v…Cụm từ “Đại Tạng Kinh” vốn không thấy xuất hiện trong các kinh sách Phật giáo ở Ấn độ, chỉ thấy xuất hiện ở Trung Hoa kể từ đời Đường trở về sau.
Bắt đầu từ triều đại nhà Đường (618 – 907), các Đại sư Ấn độ và Trung Hoa đã dịch hết Tam Tạng ( 三 藏 , Srt. Tripitaka, Pa. Tipitaka) là ba phần cốt tuỷ của kinh sách Phật giáo, gồm có: Kinh tạng (經藏 , Srt. Sutra Pitaka, Pa.Sutta Pitaka ), Luật tạng (律藏 , Srt. & Pa. Viyana Pitaka), Luận tạng ( 論藏 , Srt. Abhidharma Pitaka, Pa.Abhidhamma Pitaka). Sau đó các Đại sư còn hoàn thành “Đại Tạng Kinh” (大 藏 經 , Ta-tsang-ching, Av. Great Storehouse Scripture) .
Công trình phiên dịch vĩ đại
Các dịch giả tiền phong đã cố gắng vượt bực. Trong khi nghiên cứu triết lý Phật giáo thì họ cũng đi tìm những thuật ngữ của Lão Tử ( 老子)trong Đạo Đức Kinh (道德經) như: chữ đạo ( 道 ) để dịch chữ dharma (lời dạy của Đức Phật, sau này dịch là Pháp). Đôi khi dùng chữ của Nho gia như: giới luật ( 界 律 ) để dịch chữ sila.
Phần lớn các kinh điển Phật giáo dịch ra tiếng Hán vào thời ban đầu đều dùng từ ngữ của Lão giáo nên được gọi là “Phật giáo Ko-i” (Ko-i Buddhism) .Ko-i có chữ Hán là 格 義 (chữ Hán Việt: cách nghĩa ).Chữ cách nghĩa là chữ phiên dịch Phật điển mượn từ thuật ngữ của Lão giáo để thuyết minh và lý giải Phật giáo.
Nói khác nhiều thuật ngữ Lão giáo đã được Phật giáo Trung Hoa sử dụng. Thí dụ như thuật ngữ vô vi ( 無爲) của Lão tử trong Đạo Đức Kinh được sử dụng để dịch chữ asaṃskṛta (tiếng Sanskrit, Pali asaṅkhata). Tuy nhiên chữ vô vi trong tư tưởng triết học của Lão tử có ý nghĩa khác hơn chữ vô vi trong tư tưởng triết học Phật giáo:
- Vô vi dịch theo nghĩa đen là “không làm gì”.Nhưng theo thuyết vô vi của Lão tử thì: 道 常 無 為 而 無 不 為 Đạo thường vô vi nhi vô bất vi dịch: “Đạo vĩnh cửu không làm gì mà không có gì là không làm được”. Như vậy, vô vi không có nghĩa là không làm gì nhưng có nghĩa là không làm gì trái với tự nhiên, phải làm những gì hợp với tự nhiên, tức là phải sống theo tự nhiên; ví như sự vận hành của mặt trời mặt trăng và các hành tinh khác, hay sự sống chết, sinh lão của động vật, thực vật đều do phép tự nhiên chi phối một cách thích hợp. Nói cách khác, chúng chẳng bị điều kiện hóa (unconditioned) tức là chúng chẳng bị các điều kiện khác như thời gian, không gian cùng với các hiện tượng của vũ trụ làm thay đổi.
Về phép xử thế, theo Lão tử, vô vi là không cạnh tranh, không ganh đua mà phải khiêm tốn, bỏ thân mình ở sau mà thành ra thân mình ở trước, bỏ thân mình ra ngoài mà thành ra thân mình còn mãi.Khi mình không tranh giành với ai thì không ai tranh giành được với mình.Vô vi còn có nghĩa là tiết chế lòng dục, không ham muốn, không chuộng những vật hiếm có, phải biết đủ là đủ: 見素抱朴,少私寡欲,絕學無憂。 Kiến tố bão phác, thiểu tư quả dục, tuyệt học vô ưu。 dịch: “Hãy thể hiện sự trinh nguyên và ôm giữ sự chất phác; hãy bớt tư lợi và giảm ham muốn; hãy dứt tuyệt học vấn (cái biết) ắt không còn lo âu”.
- Theo tư tưởng triết học Phật giáo thì vô vi là không có ý niệm, không có nhân duyên tạo tác, không sinh không diệt, không biến đổi, không tạo ra bốn tướng: sanh, trụ, hoại, diệt. Vô vi chỉ thể tánh Niết bàn, thật tướng.Trái lại là hữu vi tức là cái có sắc tướng.Theo Phật giáo tất cả các sự vật trong vũ trụ đều chia ra làm 2 loại:
a. Các pháp hữu vi (conditioned things):là tất cả sự vật biến đổi theo điều kiện.
b. Các pháp vô vi (unconditioned things): là tất cả mọi sự vật bất biến, thường hằng, chẳng sanh chẳng diệt.
Kết luận
Công việc phiên dịch Tam Tạng giáo điển từ tiếng Phạn (vào đời Nguyên, có Đại Tạng Kinh Tây Tạng) ra chữ Hán ở Trung Hoa đã được hầu hết các triều đình bảo trợ. Từ thời Ngô Tôn Quyền thuộc đời Tam Quốc cho tới cuối đời Thanh, triều đình thường cho xây dựng một cơ sở rộng lớn dùng để làm nơi phiên dịch.
Các triều đình đều cử vị cao tăng ưu tú thông thạo Tam Tạng giáo điển, thông thạo tiếng Phạn lẫn tiếng Hán làm chủ tịch Hội đồng phiên dịch. Hội đồng này gồm nhiều vị cao tăng đã đạt tăng vị cao trong hàng tăng quan cùng với nhiều vị quan văn ưu tú ở trong triều đình. Bởi thế nên, Đại Tạng Kinh đã được dịch ra chữ Hán một cách hoàn chỉnh trong một hoàn cảnh hết sức thuận lợi.
Việc phiên dịch kinh điển Phật giáo ra chữ Hán đã làm giàu thêm rất nhiều thành ngữ và từ ngữ mới cho tiếng Hán cổ, theo ước tính của một nhà ngôn ngữ Tàu thì Phật giáo đã đem đến 35.000 tiếng mới cho tiếng Hán cổ. Trong lịch sử Trung Hoa, có rất nhiều vị vua rất mộ đạo Phật, ngay cả Vua Tắc Thiên Võ Hậu cũng rất sùng kính và hết lòng hỗ trợ Mật giáo. Nhờ vậy Phật giáo đã được truyền bá rộng rãi ở Trung Hoa.
Phật giáo đã chinh phục được giới trí thức Trung Hoa trên bình diện tư tưởng, và chinh phục được đại chúng trên bình diện tín ngưỡng. Các nhà Nho, các Đạo gia đã trở thành các nhà nghiên cứu Phật học, họ đã đem những kiến giải của đạo Phật vào các luận giải trong phái tân Nho học. Trong văn học thì có nhiều bài thơ chứa đựng nhiều thiền vị như thơ thiền đời Đường, thơ thiền đời Tống chứa đựng những triết lý về cuộc đời và người đời, về thân phận của kiếp người của Phật giáo.
Cập Nhật Lúc Tháng 12 16, 2025 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân

