Có thể bạn quan tâm: Niệm Phật Tiêu Trừ Nghiệp Chướng: Sức Mạnh Không Thể Nghĩ Bàn
Dẫn nhập: Vì sao “Niệm Phật Tông Yếu” là ánh sáng cho thời đại này?
Trong thời mạt pháp nhiễu nhương, khi con người bị cuốn vào vòng xoáy của tham sân si, khi cuộc sống hàng ngày chất chứa những lo toan và phiền não, thì việc tìm được một con đường tu tập vừa đơn giản lại vừa hiệu quả để vượt thoát luân hồi là điều mà bất kỳ ai cũng mong mỏi. “Niệm Phật Tông Yếu” của Pháp Nhiên Thượng Nhân chính là cuốn sách như thế. Đây không chỉ đơn thuần là một tác phẩm Phật học, mà là một kim chỉ nam dẫn dắt người tu Tịnh Độ đi thẳng vào bản chất của Pháp môn, vượt qua mọi nghi ngờ, chấp trước để đặt chân về Tây Phương Cực Lạc.
Tại sao lại nói đây là “lối cực tắt”? Bởi lẽ, Pháp Nhiên Thượng Nhân đã vạch rõ ra rằng, con đường giải thoát không nằm ở những pháp môn cao siêu, khó tu, khó chứng, mà nằm ở niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Điều này nghe có vẻ đơn giản đến mức “giản dị”, nhưng chính sự giản dị ấy lại là chân lý cao cả, phù hợp với mọi căn cơ, mọi hoàn cảnh, từ bậc cao tăng đến người thường ngày.
Có thể bạn quan tâm: Hướng Dẫn Tải Và Đọc Sách “niệm Phật Thập Yếu” Pdf
Tiểu sử Pháp Nhiên Thượng Nhân: Hành trình từ một cậu bé phi phàm đến hóa thân của Đại Thế Chí
1. Những dấu hiệu bất phàm từ thuở ấu thơ
Pháp Nhiên Thượng Nhân (1133-1212), vị tổ sư khai sáng Tông Tịnh Độ tại Nhật Bản, đã mang trong mình một số phận đặc biệt ngay từ khi chào đời. Trước khi ngài ra đời, thân phụ là một vị quan đã quá tứ tuần mà chưa có con nối dõi, bèn cùng phu nhân trai giới thanh tịnh, vào chùa tụng kinh 7 ngày đêm để cầu Phật gia hộ. Đến đêm thứ bảy, mẹ ngài nằm mộng thấy một lão tăng trao cho bà một cây dao cạo tóc, bảo bà nuốt vào. Sau đó, bà mang thai, và từ lúc này, thân tâm bà trở nên an lạc lạ thường, phát tâm ăn chay trường và thâm tín Tam Bảo.
Khi đản sinh, có hai luồng hào quang từ trên không chiếu xuống, tiếng chuông ngân vang. Đầu Ngài vuông vắn có góc, mắt hai tròng, tướng mạo phi phàm, báo hiệu một vị đại sư tương lai.
2. Nỗi đau mất cha và chí nguyện xuất trần

Có thể bạn quan tâm: Niệm Phật Trừ Tà Ma: Ý Nghĩa, Phương Pháp Và Những Lưu Ý Quan Trọng
Năm lên chín tuổi, Pháp Nhiên chứng kiến cái chết của phụ thân mình do bị địch quân sát hại. Trước lúc lâm chung, thân phụ đã để lại di ngôn thâm sâu: “Nầy con! Đây là túc nghiệp của cha, tuyệt đối không nên ôm hận báo thù. Hãy nhớ rằng oán không thể diệt oán. Nếu mang cái tâm báo thù thì đời đời kiếp kiếp sẽ giết hại lẫn nhau không bao giờ dứt. Mình biết đau thì người khác cũng biết tiếc mạng sống. Con sau này thành nhân hãy cầu vãng sanh Cực Lạc, lợi lạc bình đẳng cho người và mình!”. Lời dặn dò ấy không chỉ là một lời trăn trối, mà là bản kinh nghiệm về lòng từ bi và trí tuệ, đã gieo vào tâm thức non nớt của Pháp Nhiên hạt giống của đạo giải thoát.
3. Hành trình tu học: Từ Thiên Thai đến Tịnh Độ
Năm 14 tuổi, Pháp Nhiên xuất gia với Pháp sư Giác Quán. Với trí tuệ mẫn tiệp, “nhất văn thiên ngộ”, ngài nhanh chóng được đưa tới Tỷ Duệ Sơn, nơi ngài thọ giáo với các bậc đại sư như Nguyên Quang, Hoàng Viên và Duệ Không. Trong thời gian ngắn ngủi, ngài đã thấu triệt hết thảy những áo diệu của giáo pháp Thiên Thai và Mật Tông.
Tuy nhiên, Pháp Nhiên không bao giờ bằng lòng với những kiến thức đã có. Ngài không chỉ là một học giả uyên bác, mà là một người hành giả luôn khao khát tìm kiếm chân lý. Ngài duyệt đọc Đại Tạng Kinh cả thảy 5 lần, nghiên cứu mọi tông phái, thông tuệ cả bách gia của Trung Hoa lẫn Nhật Bản. Dù được tôn xưng là “Trí Huệ Đệ Nhất”, ngài vẫn luôn cảm thấy một nỗi băn khoăn, một nỗi bất an chưa thật sự an tâm.
4. Cuộc “thức tỉnh” trước bộ “Quán Kinh Sớ” của Tổ Thiện Đạo
Điểm chuyển biến lớn nhất trong cuộc đời tu tập của Pháp Nhiên Thượng Nhân đến từ bộ “Quán Kinh Sớ” của Đại sư Thiện Đạo. Trong một lần đọc đi đọc lại bộ sớ này, ngài bỗng nhiên “ngộ được ý chỉ DI ĐÀ SIÊU THẾ NGUYỆN”. Cảm giác lúc đó được ngài ví như “kẻ mù được sáng, người sắp chết đuối gặp phao”. Từ đây, ngài lập tức xả bỏ tất cả những pháp môn đã và đang tu, nhập thất chuyên tu Tịnh Độ, chuyên tâm niệm Phật.
Một đêm, ngài nằm mộng thấy Đại sư Thiện Đạo hiện đến bảo rằng: “Tôi là sư Thiện-Đạo đời Đường. Ông có thể hoằng dương Chuyên tu Niệm Phật, nên tôi đến để chứng minh. Từ nay ông có thể hoằng pháp thịnh hóa khắp cả bốn phương”. Giấc mộng này như một lời trao truyền tâm ấn, đánh dấu sự chuyển mình từ một vị học giả uyên bác thành một vị tổ sư khai tông lập phái.
5. Sáng lập Tông Tịnh Độ và để lại dấu ấn nghìn năm

Có thể bạn quan tâm: Niệm Phật Tiếng Tây Tạng: Cẩm Nang Toàn Tập Từ A Đến Z Cho Người Mới Bắt Đầu
Năm 43 tuổi, Pháp Nhiên Thượng Nhân rời Hắc Cốc, đến trụ tích ở Đông Cát Thủy, chính thức khai sáng Tông Tịnh Độ. Đây là một bước ngoặt lịch sử, vì trước đó, tuy có không ít người niệm Phật, nhưng chưa bao giờ có một Tông Tịnh Độ riêng biệt và có hệ thống kế thừa. Từ đây, Tông Tịnh Độ Nhật Bản ra đời và phát triển mạnh mẽ, để lại một dòng chảy tuệ mạng trải dài hơn 800 năm.
Đạo nghiệp của ngài thịnh hành vô cùng. Từ vua chúa, công khanh đến thứ dân đều quy ngưỡng. Dĩ nhiên, bên cạnh sự kính ngưỡng cũng có không ít sự ganh ghét, hiểu lầm. Ngài từng bị vu cáo và phải đi đày, nhưng chính trong thời gian lưu đày, ngài vẫn an nhiên dạy đạo, khiến nhiều người có duyên được gặp Ngài và nhờ đó mà vãng sanh.
6. Những điềm lành khi vãng sanh
Pháp Nhiên Thượng Nhân vãng sanh vào giữa trưa ngày 25 tháng 2 năm 1212, hưởng thọ 80 tuổi. Trước lúc lâm chung, ngài đã có những lời khai thị sâu sắc:
- Tiết lộ thân thế: Ngài cho biết mình vốn là hóa thân của Xá Lợi Phất, vị đại đệ tử của đức Phật Thích Ca.
- Xác quyết vãng sanh: Khi có đệ tử hỏi: “Thầy nay có vãng sanh về Thế-giới Cực-Lạc không?”, ngài đáp: “Thầy vốn là người của Cực Lạc thì dĩ nhiên trở về Cực Lạc.”
- Hiện tướng chư Phật: Ngài chỉ lên không trung và bảo: “Phật hiện Chân thân kìa, các con có thấy không? Thầy mười mấy năm nay thường thấy Chân thân của Phật, Bồ Tát và Cực Lạc Trang Nghiêm, nhưng tuyệt đối không nói với ai. Nay sắp lâm chung, nên không ngại gì mà không nói cho các con biết”.
Đặc biệt, trước lúc vãng sanh 5 ngày, có mây ngũ sắc che phủ chùa, khiến đại chúng đều thấy. Trước lúc vãng sanh 16 năm, khi các đệ tử mở kháp đá, di thể ngài vẫn còn nguyên vẹn, dung mạo từ hòa. Khi hỏa táng, đệ tử và nhân dân hơn ngàn người hộ tống, mây lành lại hiện, hương thơm phảng phất khắp nơi, nên nơi đó về sau có tên là “Tử Vân Tùng”, chính là chùa Quang Minh ngày nay.
Tinh hoa giáo lý từ “Niệm Phật Tông Yếu”: 75 điều răn dạy bất hủ
Phần 1: Xác lập căn bản – Niệm Phật là pháp môn thù thắng nhất thời mạt pháp
1. So sánh Thánh Đạo Môn và Tịnh Độ Môn
- Thánh Đạo Môn tuy thâm diệu, nhưng thời điểm và căn cơ chẳng tương ứng.
- Tịnh Độ Môn hình như là nông cạn, nhưng thời điểm và căn cơ đều tương ứng. Đây là điểm then chốt. Trong thời mạt pháp một vạn năm, các kinh điển khác đều tiêu diệt, chỉ còn pháp môn niệm Phật A Di Đà để cứu độ chúng sanh.
2. Niệm Phật là pháp môn siêu việt
- Tông Tịnh Độ siêu hơn các tông. Hạnh Niệm Phật siêu hơn các hạnh. Bởi vì thâu nhiếp tất cả các cơ vậy.
- Chẳng luận có tội hay vô tội, chẳng kể là trì giới hay phá giới, nếu căn cứ vào thời điểm và căn cơ thì chỉ có pháp môn Tịnh Độ (Hạnh Niệm Phật) là yếu pháp để thoát khỏi sinh tử trong đời này.
3. Niệm Phật là con đường trực tiếp về Cực Lạc
- Để đời này thoát khỏi sinh tử, không gì hơn vãng sinh Tịnh Độ. Để được vãng sinh Tịnh Độ, không gì hơn Niệm Phật.
- Tu Niệm Phật để cầu vãng sinh Tịnh Độ, thì tương ứng với tâm của Đức Thích Ca, Đức A Di Đà. Tu các hạnh khác để cầu vãng sanh Tịnh Độ thì mâu thuẫn với tâm của Đức Thích Ca, Đức A Di Đà.
4. Niệm Phật chính là hạnh tương ưng với Bổn Nguyện của Phật A Di Đà
- Để được vãng sinh cõi Cực Lạc, thì dù diệu hạnh gì chăng nữa cũng không hơn niệm Phật. Vì sao thế? Vì niệm Phật là hạnh tương ưng với Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà.
- Ngoài niệm Phật, tất cả hạnh khác đều chẳng tương ưng với Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà.
Phần 2: Làm rõ bản chất – Niệm Phật là gì?
5. Niệm Phật là gì?
- Niệm Phật không có hình thức. Ngoài việc xưng Danh hiệu, không có hình thức gì cả.
- Chỉ biết rằng: “Hễ xưng Danh hiệu Đức Phật A Di Đà thì được sinh sang cõi Cực Lạc”, do đó chí tâm niệm Phật để cầu vãng sinh.
6. Niệm Phật không phải là quán tưởng
- Niệm Phật chẳng phải là quán Pháp Thân Phật, chẳng phải là quán tướng hảo của Phật. Chỉ một lòng chuyên xưng danh hiệu Đức A Di Đà, đó là niệm Phật.
7. Niệm Phật là pháp môn dễ tu
- Tất cả căn cơ cứ tùy theo thiên tính mà niệm Phật để vãng sinh. Cái thân hiện nay do túc nghiệp đời trước mà có, nên trong đời này không thể thay đổi.
- Người trí thì lấy trí mà niệm Phật vãng sinh. Người ngu thì dùng ngu mà niệm Phật vãng sinh. Có đạo tâm cũng niệm Phật vãng sinh. Không đạo tâm cũng niệm Phật vãng sinh. Người có tà kiến cũng niệm Phật vãng sinh.
- Do Bản Nguyện Không Thể Nghĩ Bàn của Đức A Di Đà, hễ niệm Phật thì đều được vãng sinh.
8. Niệm Phật bình đẳng tuyệt đối
- Hỏi: Người xuất gia niệm Phật với người tại gia niệm Phật hơn kém ra sao?
- Đáp: Công đức bằng nhau không có hơn kém. Người xuất gia niệm Phật với người tại gia niệm Phật công đức bằng nhau không có hơn kém. Vì sao vậy? Người không biết Bản Nguyện của Đức A Di Đà mới có nghi vấn này!
- Pháp Nhiên nầy cũng mong Phật cứu độ mà niệm Nam mô A Di Đà Phật. Anh Cát Đằng (một đệ tử tại gia thuộc hạng hạ lưu của Ngài) cũng mong Phật cứu độ mà niệm Nam mô A Di Đà Phật. Hai bên hoàn toàn không khác gì nhau.
9. Niệm Phật không phân biệt tâm trạng
- Hỏi: Niệm Phật khi tâm thanh tịnh với niệm Phật khi tâm động hơn kém ra sao?
- Đáp: Công Đức bằng nhau, không có gì sai khác!
- Hỏi: Tôi tuy niệm Phật mà tâm cứ tán loạn không biết làm sao đây?
- Đáp: Chuyện đó thì Pháp Nhiên nầy cũng làm không nổi!
- Tâm của hạng phàm phu làm sao mà không tán loạn được. Cũng chính vì thế mới gọi là Pháp Môn Dễ Tu. Tán tâm niệm Phật mà được vãng sinh, đó là chỗ đáng quý của BỔN NGUYỆN vậy.
10. Niệm Phật là pháp môn “tán địa”
- Đã sinh làm người trong cõi dục giới tán địa nầy thì tâm đều tán loạn cả. Nếu bảo rằng phải bỏ cái tâm tán loạn mới vãng sinh được thì thật là vô lý.
- Tán tâm niệm Phật mà được vãng sinh, đó là chỗ đáng quý của BỔN NGUYỆN vậy.
Phần 3: Giải tỏa nghi ngờ – Những câu hỏi thường gặp
11. Về tội nghiệp
- Chẳng cần để ý đến vọng niệm, tán loạn… mà chỉ chuyên cần xưng Danh hiệu. Nếu thường xưng Danh hiệu thì do công đức của Phật Danh, vọng niệm tự dừng, tán loạn tự yên, tam nghiệp (thân, khẩu, ý) tự điều hòa, nguyện tâm tự phát.
- Dù trọng tội vô gián (ngũ nghịch) cũng không thể thắng công đức xưng Danh. Thanh bảo kiếm là Danh hiệu Đức A Di Đà, hễ trì niệm thì ma duyên không gần được. Thường xưng niệm Danh hiệu Ngài thì tội chướng tiêu diệt.
- Hỏi: Chỉ xưng Danh một niệm mà có thể diệt được trọng tội ngũ nghịch, thập ác ư? Đáp: Đừng nghi!
- Khi tạo ngũ nghịch mà được nghe Danh Hiệu của Đức Phật A Di Đà thì hỏa xa (cảnh địa ngục) tự nhiên biến mất, liên đài hiện đến lai nghinh. Người tội chướng nặng nề không có phương tiện gì khác để giải thoát, do xưng Danh Hiệu được vãng sinh Cực Lạc. Đó là nhờ vào Nguyện Lực của Đức Phật A Di Đà.
12. Về niệm Phật lúc lâm chung và lúc bình thường
- Hỏi: Niệm Phật lúc lâm chung với Niệm Phật lúc bình thường, bên nào thù thắng hơn?
- Đáp: Giống nhau!
- Phút lâm chung, nỗi khổ của cái chết bức bách, thân thể chịu vô lượng thống khổ, giống như trăm nghìn lưỡi dao đâm vào. Mắt mũi bỗng nhiên mờ mịt, muốn thấy cũng không thể thấy. Miệng lưỡi co cứng, muốn nói cũng không nói được. Đây là tứ khổ trong tám sự khổ của kiếp người.
- Người Niệm Phật mà có lòng cầu vãng sinh và không nghi A Di Đà Phật Bổn Nguyện thì khi lâm chung không bị điên đảo. Sở dĩ được như vậy là nhờ Phật lai nghinh.
- Phật lai nghinh là để người tu Niệm Phật lúc lâm chung được chánh niệm, chứ không phải lúc lâm chung cần phải chánh niệm thì Phật mới lai nghinh.
- Người không biết nghĩa nầy đều cho rằng lúc lâm chung cần phải chân chánh niệm Phật, Phật mới lai nghinh. Kiến giải như vậy là không tin vào Phật Nguyện và cũng không hiểu kinh văn nữa.
13. Về việc làm ác
- Hỏi: Vì Bổn Nguyện không loại trừ kẻ ác, nên người ta đều muốn tạo ác nghiệp, làm sao đây?
- Đáp: Phật A Di Đà tuy không bỏ rơi kẻ ác, nhưng người tạo ác nghiệp thì chẳng phải là đệ tử của Phật.
- Tất cả Phật Pháp là để chế phục điều ác, vì hạng ngu si phàm phu không dễ gì làm được, nên khuyên Niệm Phật để diệt tội.
- Đức Phật A Di Đà thương xót tất cả chúng sinh, dù thiện hay ác Ngài đều cứu độ. Nhưng thấy người lành thì Ngài vui, thấy kẻ ác thì Ngài thương xót.
14. Về trí tuệ và tu học
- Hỏi: Nếu trí tuệ là điều cần yếu để vãng sinh thì con người minh mẫn theo thầy học. Còn nếu chỉ cần xưng danh là đủ thì không mong gì khác. Xin Thầy từ bi khai thị cho, con sẽ tuyệt đối vâng theo như lời Phật dạy vậy.
- Ngài đáp: Chánh nghiệp vãng sinh thì trọng yếu là xưng danh. Rõ ràng là chẳng phân biệt có trí tuệ hay không có trí tuệ, cần gì phải học hành cho lắm! Chi bằng cứ lo Niệm Phật, thì sẽ mau được vãng sinh Tịnh Độ, gặp mặt Thánh chúng, được nghe pháp môn. Hơn nữa cõi kia trang nghiêm, ngày đêm thuyết pháp sâu xa, do đó sẽ tự nhiên khai phát thắng giải mà chứng Vô Sinh Nhẫn.
15. Về tự lực và tha lực
- Niệm Phật là chuyện mình làm. Vãng sinh là chuyện Phật làm. Vãng sinh là do Phật Lực ban cho, lại cứ tính toán trong tâm mình thì đó là tự lực. Chỉ nên xưng danh để chờ Phật lai nghinh.
- Tuy tam học “Giới, Định, Huệ” hoàn toàn đầy đủ, nhưng nếu không nương Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà mà xưng Danh hiệu Ngài thì không được vãng sinh. Tuy không có “Giới, Định, Huệ”, mà một mực xưng Danh thì chắc chắn được vãng sinh.
Phần 4: Phương pháp thực hành – Làm sao để niệm Phật hiệu quả?
16. Câu khẩu hiệu “Vàng” của Pháp Nhiên Thượng Nhân
Đây là phương tiện để chắc chắn được vãng sinh, xin ghi khắc vào tâm can chớ quên:
- Khi nguyện tâm còn yếu, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
- Khi tâm tán loạn nhiều, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
- Khi vọng niệm sinh khởi, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
- Khi thiện tâm phát sinh, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
- Khi bất tịnh, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
- Khi thanh tịnh, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
- Khi tam tâm còn thiếu kém, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
- Khi tam tâm hiện khởi, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
- Khi tam tâm thành tựu, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
17. Năm điều quyết định chuyện vãng sinh
- Bổn Nguyện của Đức A Di Đà quyết định.
- Lời dạy của Đức Thích Ca quyết định.
- Sự chứng minh của Chư Phật quyết định.
- Giáo thích của Tổ Thiện Đạo quyết định.
- Tín tâm của chúng ta quyết định.
18. Tám điều răn dạy để chuyên tu Tịnh Độ
- Muốn mau lìa sinh tử: Trong hai loại thắng pháp; Bỏ qua Thánh Đạo Môn, mà vào Tịnh Độ Môn.
- Muốn vào Tịnh Độ Môn; Trong hai hạnh Chánh, Tạp; Hãy bỏ các Tạp hạnh, mà quay về Chánh Hạnh.
- Muốn tu nơi Chánh Hạnh; Trong hai Chánh; Trợ Nghiệp; Chớ dính nơi Trợ Nghiệp; Hãy nên chuyên Chánh Định.
- Chuyên tu Chánh Định Nghiệp; Tức là Xưng Phật Danh; Xưng Danh tất vãng sinh; Bởi do Phật Bổn Nguyện.
Phần 5: Những lời khuyên dành cho người tu
19. Về việc giữ giới
- Hạnh Trì giới mà không xưng Danh Hiệu Nam mô A Di Đà Phật cầu sinh Tịnh Độ, chẳng phải là hạnh mà Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà nhiếp thọ. Do đó cứ theo khả năng của mình mà giữ là được rồi. Điều quan trọng là chuyên cần Niệm Phật.
20. Về việc cầu nguyện
- Thọ giáo và phát tâm không hẳn là cùng lúc, vì phát tâm thì gặp duyên mà phát khởi. Trước đây có một vị sơn tăng hỏi tôi rằng: “Tôi học pháp môn Tịnh Độ đã lâu, hiểu được đôi chút nhưng chưa phát khởi được tín tâm. Phải dùng phương tiện gì để thành lập tín tâm?”. Tôi đáp: “Hãy cầu nguyện Tam Bảo gia bị”.
21. Về việc tu học
- Người tu Tịnh Độ trước hết nên biết hai điều nầy:
- Vì người có duyên dù phải bỏ thân mệnh, tài sản cũng nên vì họ mà nói pháp môn Tịnh Độ.
- Vì sự vãng sinh của mình, nên xa lìa mọi phiền nhiễu mà chuyên tu hạnh Niệm Phật.
- Đã tu Tịnh Độ thì mọi chuyện trong đời đều y theo Niệm Phật mà quyết định. Tất cả đều là trợ duyên cho Niệm Phật, hễ làm chướng ngại thì nên từ bỏ.
- Sống một mình không Niệm Phật được thì ở chung mà Niệm Phật. Sống chung không Niệm Phật được thì ở một mình mà Niệm Phật. Tại gia mà không Niệm Phật được thì xuất gia mà Niệm Phật. Xuất gia mà không Niệm Phật được thì tại gia mà Niệm Phật. Sống giữa đời không Niệm Phật được thì trốn đời mà Niệm Phật. Trốn đời không Niệm Phật được thì sống giữa đời mà Niệm Phật.
22. Về thái độ sống
- Nguyện rằng người tu Tịnh Độ gặp bệnh hoạn nên vui!
- Thành Phật tuy khó nhưng cầu vãng sinh thì dễ được. Nhờ sức Bổn Nguyện làm cường duyên, nên tuy là phàm phu mà được vãng sinh Báo Độ (Thực Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ).
- Đáng thương thay! Thiện tâm tùy năm mà giảm, ác tâm theo ngày mà tăng!
- Hãy nhớ rằng: “Phiền não như ảnh tùy thân, muốn bỏ mà không xong. Bồ Đề như trăng trong nước, muốn lấy mà không được”.
23. Về việc tự lực và tha lực
- Tuy biết rằng: “Dù tội ngũ nghịch cũng không chướng ngại vãng sinh” nhưng phải cẩn thận ngay cả tội nhỏ cũng chớ phạm.
- Tuy biết rằng “một niệm cũng đủ” nhưng gắng niệm cho nhiều. Tin rằng một niệm cũng vãng sinh mà niệm suốt một đời.
- Hỏi: Vấn đề tự lực và tha lực nên hiểu như thế nào?
- Đáp: Pháp Nhiên nầy, tuy không phải là loại căn khí, có thể ra mắt Điện Hạ (Thiên Hoàng) nhưng do Điện Hạ triệu vào. Hai lần vào ra mắt không phải là do khả năng của tôi, mà do sức của Thiên Hoàng, huống gì là sức của Đức Phật A Di Đà!
24. Về việc tu Tịnh Độ so với các tông môn khác
- Hỏi: Để mau chóng lìa khỏi sinh tử, thì Chân Ngôn (Mật Tông), Chỉ Quán (Thiên Thai), Hoa Nghiêm, Phật Tâm (Thiền Tông) phải thâm diệu hơn Tịnh Độ chứ?
- Đáp: Pháp môn thì vô lượng nhưng luận về chỗ cấp yếu, thì tối thượng là Tịnh Độ. Các giáo pháp tuy nhiều nhưng xét đến chỗ cương yếu, thì Tha Lực Đốn Giáo thù thắng hơn cả. Vì dễ tu mà công cao, dễ hành mà lý thâm.
Kết luận: Niệm Phật Tông Yếu – Kim chỉ nam cho hành trình về Tây Phương
“Niệm Phật Tông Yếu” của Pháp Nhiên Thượng Nhân không chỉ là một tác phẩm lý luận Phật học, mà là một bản tuyên ngôn cho Pháp môn Tịnh Độ. Ngài đã dùng cả cuộc đời tu tập, trải nghiệm và trí tuệ uyên bác của mình để khẳng định rằng:
- Niệm Phật là pháp môn dễ tu, dễ chứng, dễ thành tựu nhất trong thời mạt pháp.
- Niệm Phật là pháp môn bình đẳng, không phân biệt giới tính, tầng lớp, trí tuệ hay tội phước.
- Niệm Phật là pháp môn dựa vào Tha Lực, tức là nguyện lực của Đức Phật A Di Đà, chứ không phải dựa vào sức riêng của bản thân.
- Niệm Phật là pháp môn chắc chắn được vãng sinh, không phải chờ đợi hay lo lắng.
Đọc “Niệm Phật Tông Yếu”, người học Phật không chỉ học được lý mà còn học được hạnh, không chỉ học được cách niệm Phật mà còn học được cách sống với tâm niệm Phật. Đó là lý do vì sao, dù trải qua hơn 800 năm, những lời dạy của Pháp Nhiên Thượng Nhân vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là ánh sáng soi đường cho bao người đang trên hành trình tìm về bến bờ an lạc.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Cập Nhật Lúc Tháng 12 18, 2025 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân
