Có thể bạn quan tâm: Phật Giáo In English Là Gì? Tổng Quan Về Nền Tảng, Giáo Lý Và Ảnh Hưởng Toàn Cầu
Giới thiệu: Khái niệm Phật giáo nhập thế trong lịch sử và hiện đại
Phật giáo nhập thế, hay còn gọi là “Engaged Buddhism” (Phật giáo dấn thân), là một chủ đề đã và đang thu hút sự quan tâm sâu sắc của các nhà nghiên cứu, tu sĩ và những người quan tâm đến vai trò của tôn giáo trong xã hội hiện đại. Khái niệm này, dù mới được sử dụng phổ biến trong vài thập kỷ gần đây, thực chất đã phản ánh một hiện thực lâu đời: Phật giáo luôn có mặt trong đời sống con người, tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, nhân sinh và góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.
Từ khi ra đời cho đến nay, Phật giáo đã du nhập và phát triển ở nhiều quốc gia, dân tộc khác nhau, và ở bất cứ nơi nào, tinh thần nhập thế luôn là một đặc điểm nổi bật. Ở Việt Nam, tinh thần này càng được thể hiện rõ nét, đặc biệt là qua những đóng góp to lớn của Phật giáo trong lịch sử dân tộc, từ thời kỳ kháng chiến chống giặc ngoại xâm đến thời bình xây dựng đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Trong cuộc kháng chiến cứu nước, đồng bào Phật giáo đã làm được nhiều”. Người còn chỉ rõ, tinh thần Từ Bi của Đạo Phật chính là một trong những định hướng giá trị và mô thức hành vi của sự nghiệp cách mạng vĩ đại đó.
Tuy nhiên, để tinh thần nhập thế chân chính được phát huy cao độ, góp phần giải quyết hiệu quả những vấn đề xã hội và nhân sinh, đồng thời ngăn ngừa và loại bỏ những biến tướng, biến chất nhân danh nhập thế, cần trở lại với những nhận thức đúng đắn về “nhập thế”. Một quan niệm đúng đắn về Phật giáo nhập thế sẽ góp phần định hướng, dẫn dắt quá trình nhập thế trong hiện thực của Phật giáo, làm cho quá trình nhập thế ấy đi đúng chính đạo.
Trần Nhân Tông, vị Vua – Phật đã rất thành công trong việc đưa Phật giáo nhập thế, là một tấm gương sáng về điều đó. Tư tưởng của Ngài về Phật giáo nhập thế không chỉ thể hiện trong ngôn từ, mà còn và chủ yếu thể hiện trong thực hành của Ngài, có giá trị to lớn, không chỉ đối với xã hội, mà còn đối với bản thân Phật giáo.
Quan niệm đương đại về Phật giáo nhập thế
Từ điển và quan niệm chung
Khái niệm “nhập thế” đã xuất hiện trong các từ điển Việt Nam, tuy nhiên, cách tiếp cận còn mang tính chất Nho giáo. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2004), “nhập thế” được định nghĩa là “dự vào cuộc đời (thường là ra làm quan), gánh vác việc đời, không đi ở ẩn, theo quan niệm của Nho giáo”. Quan niệm này tiếp cận vấn đề nhập thế từ quan điểm “xuất”, “xử” của Nho gia, không hoàn toàn phù hợp với Phật giáo.
Trong khi đó, Từ điển Nho, Phật, Đạo do Lao Tử, Thịnh Lê chủ biên giải thích từ nhập thế như sau: “Đạo gia cho rằng, tại gia mà tu đạo, đó có nghĩa là hòa nhập theo thế tục mà lập thân hành đạo, cho nên gọi là công phu nhập thế”. Quan niệm này, dù phảng phất chất Đạo học, nhưng cũng khá phù hợp với tinh thần nhập thế của Phật giáo, đặc biệt trên phương diện nhìn nhận nhập thế như một quá trình trong chỉnh thể tương tác biện chứng giữa “chứng đạo” và “độ thế hành đạo”.
Quan niệm của giới khoa học và trí thức Phật giáo
Nhân gian Phật giáo
Ở Việt Nam, khái niệm “Nhân gian Phật giáo” xuất hiện từ thập niên 30 của thế kỷ XX, gắn liền với loạt bài viết của học giả Nguyễn Trọng Thuật. Ông quan niệm: “Nhân gian Phật giáo đối với đạo Phật là phát biểu những điều chân chính có quan thiết đối với đời người để làm lợi ích cho đời, chứ không có gì là khác lạ”. Nói cách khác, “Nhân gian Phật giáo” là đạo Phật đóng vai trò dẫn dắt tinh thần với mục đích đem lại những điều có lợi cho nhân gian.
Đạo Phật đi vào cuộc đời
Đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, phong trào Phật giáo diễn ra sôi nổi ở miền Nam Việt Nam, đặc biệt là phong trào chống chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm. Tác phẩm “Đạo Phật đi vào cuộc đời” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, xuất bản năm 1964, là tập hợp loạt bài viết được viết từ giữa thập niên 50. Bản thân tên sách đã đề xuất một khái niệm mới phản ánh tinh thần nhập thế của Phật giáo. Thích Nhất Hạnh giải thích: “Đem đạo Phật đi vào cuộc đời có nghĩa là thể hiện những nguyên lý đạo Phật trong sự sống, thể hiện bằng những phương thức phù hợp với thực trạng của cuộc đời để biến cải cuộc đời theo chiều hướng thiện, mỹ. Chừng nào sinh lực của đạo Phật được trông thấy dào dạt trong mọi hình thức của sự sống chừng đó ta mới có thể nói được rằng đạo Phật đang thật sự hiện hữu trong cuộc đời”.
Engaged Buddhism
Năm 1966, tác phẩm nổi tiếng thế giới “Hoa sen trong biển lửa” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh được xuất bản, đánh dấu sự khởi đầu của khái niệm “Engaged Buddhism”. Thiền sư giải thích: “Cái tự thân của đạo Phật là đi vào cuộc đời rồi. Nếu không đi vào cuộc đời thì đâu còn là đạo Phật nữa? Điều này rất dễ hiểu. Chúng ta đã học Bát Chánh Đạo, chúng ta biết rằng Tứ Đế là một giáo lý khuyên chúng ta, chỉ dẫn cho chúng ta đối diện trực tiếp với khổ đau mà không phải chạy trốn khổ đau. Sự thật thứ nhất là sự có mặt của đau khổ, và mình phải trực tiếp đối diện với đau khổ đó. Vậy thì ngay trong sự hình thành của Phật giáo ta đã thấy cái tính chất dấn thân rồi. Vì nếu không là dấn thân, nếu không phải là nhân gian, nếu không phải là đi vào cuộc đời, thì đạo Phật đâu còn là đạo Phật nữa? Vậy thì tại sao đã là đạo Phật rồi mà còn phải thêm chữ dấn thân, phải thêm chữ nhập thế nữa, phải thêm chữ engaged nữa? Tại vì sao? Là tại có những người nghĩ rằng đạo Phật là chỉ dành cho những người tu ở trong chùa thôi! Vì vậy cho nên phải dùng chữ engaged cho họ hiểu. Khi người ta đã hiểu rồi thì mình bỏ chữ engaged đi cũng được, bỏ chữ dấn thân đi cũng được”.
Quan niệm của các đại sư Thái Hư, Ấn Thuận và Tinh Vân
Đại sư Thái Hư, một nhà cải cách Phật giáo Trung Quốc hiện đại, đề xuất khái niệm “Nhân sinh Phật giáo” (Buddhism for Human Life), một khái niệm tiền thân của “Nhân gian Phật giáo”. Ông giải thích: “Nhân sinh, theo nghĩa hẹp là đời sống của toàn bộ nhân loại; theo nghĩa rộng, Nhân là nhân loại, Sinh là chúng sinh trong cửu pháp giới. Nhân loại là trung tâm của mọi chúng sinh trong cửu pháp giới, một niệm hướng xuống thì thành tứ ác thú, một niệm hướng lên thì là trời và tam thừa, cho nên, nhân loại có thể là đại biểu chung cho chúng sinh trong cửu pháp giới, và cũng là điểm chuyển đổi trong chúng sinh thuộc cửu pháp giới”.
Đại sư Tinh Vân, người sáng lập và lãnh đạo Phật Quang Sơn, cũng là người luôn nêu cao quan niệm về Nhân gian Phật giáo. Theo ông, “Phật giáo nhân gian là đưa Phật pháp vào trong đời sống, chính là chú trọng thực hiện Tịnh độ ngay trong thế giới này, chứ không phải là trông chờ ở sự báo đáp trong tương lai”.
Nan đề và thách thức của Phật giáo nhập thế hiện nay
Thách thức từ bên trong Phật giáo

Có thể bạn quan tâm: Phật Giáo Nhiệm Màu: Những Câu Chuyện Kỳ Diệu Trong Cuộc Sống
Mặc dù các nhà tiên phong của Phật giáo nhập thế có khẳng định mạnh mẽ đến đâu sự phù hợp của tinh thần nhập thế với bản chất tự thân của Phật giáo, thì vẫn còn đó quan niệm e ngại sự nhập thế có thể ngăn cản/tập nhiễm đường tu chân chính của người tu và xuất thế vẫn là một nhu cầu mãnh liệt trên con đường đạt tới chính quả. Một số người cho rằng, việc quá chú trọng vào các hoạt động xã hội có thể làm lu mờ mục tiêu giải thoát cá nhân, khiến người tu trở nên xa rời với con đường tu tập chân chính.
Thách thức từ bên ngoài Phật giáo
Từ bên ngoài, đồng thời với việc khẳng định vai trò và đóng góp của Phật giáo trong giải quyết nhiều vấn đề của xã hội, nhân sinh, thì đồng thời, không phải không có sự băn khoăn, lo lắng về giới hạn chính đáng cũng như nguy cơ va chạm giữa Phật giáo với các thiết chế xã hội khác khi nhập thế. Một số người lo ngại rằng, việc Phật giáo tham gia quá sâu vào các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội có thể làm mất đi tính trung lập, khách quan của tôn giáo, thậm chí có thể dẫn đến sự chính trị hóa Phật giáo.
Thách thức từ bối cảnh hiện đại
Những vấn đề xã hội, nhân sinh trong bối cảnh toàn cầu hóa, kỷ nguyên số, xã hội tiêu thụ đang diễn biến phức tạp, thách thức hiệu quả và sự bền vững của những giải pháp đến từ Phật giáo. Các vấn đề như bất bình đẳng xã hội, biến đổi khí hậu, khủng hoảng môi trường, xung đột văn hóa, khủng bố, v.v., đòi hỏi những giải pháp toàn diện, có sự phối hợp của nhiều bên, trong đó có Phật giáo, nhưng Phật giáo không thể đơn độc giải quyết được tất cả.
Tư tưởng Phật giáo nhập thế của Trần Nhân Tông
Trần Nhân Tông: Vị Vua – Phật nhập thế
Phật Hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) là một nhân vật chói sáng trong lịch sử dân tộc Việt Nam với những đóng góp to lớn và toàn diện trên tất cả các mặt từ chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, tôn giáo, v.v. Dấu ấn mà Trần Nhân Tông để lại trong lịch sử dân tộc Việt Nam là vô cùng sâu đậm, ảnh hưởng là vô cùng lâu dài.
Trên phương diện nhà tu hành đã chứng Đạo, nhà sáng lập Phật giáo Trúc Lâm Việt Nam, người thống nhất tổ chức Phật giáo Việt Nam, Trần Nhân Tông với Pháp hiệu Hương vân đại đầu đà (Trúc Lâm đại đầu đà, Trúc Lâm đại sĩ, Điều Ngự Giác Hoàng) đã an nhiên tự tại trên Phật tòa trong tâm thức Việt Nam. Nhưng ngôi cao chói lọi này không xa vời mà lại luôn ở trong nhân gian, hòa với nhân gian, rọi sáng cho nhân gian, góp phần đưa nhân gian vượt bờ mê, qua bến giác, theo tinh thần “Hòa quang đồng trần”. Phật tại thế gian, cứu độ nhân gian, chứng ngộ trong nhân gian với trạng thái viên mãn “Cư trần lạc đạo” chính là cốt lõi tư tưởng Phật giáo nhập thế của Phật hoàng Trần Nhân Tông.
Không phải đợi đến khi chính thức xuất gia, Trần Nhân Tông mới đến với cửa Phật. Ngài đã ngộ đạo và lạc đạo từ rất sớm và vì thế tinh thần Phật giáo nhập thế của Ngài đã thể hiện một cách sống động cùng với những bước thăng trầm của dân tộc, với những nỗi khổ lạc của nhân dân, nhất là từ khi Ngài trở thành người lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc, cũng như khi Ngài đã chính thức xuất gia. Hành trình nhập thế lâu dài và sâu sắc như thế chính là hành trình song trùng của ngộ đạo và hành đạo, bổ sung, hỗ trợ cho nhau.
Những quan điểm lớn về Phật giáo nhập thế của Trần Nhân Tông
Thứ nhất: Phật giáo nhập thế là sự thể hiện tinh thần tự nhiệm của người tu Phật trước Tổ quốc, dân tộc
Tinh thần tự nhiệm nổi bật trước hết ở Nho giáo. Người quân tử hiểu đạo, hiểu đời, hiểu người, hiểu mình, vì thế luôn có ý thức về trách nhiệm của mình với đạo, với đời và với người. Trần Nhân Tông là người am hiểu sâu sắc tam giáo, trong đó có Nho giáo. Trong các tác phẩm của Ngài, tiêu biểu là “Cư trần lạc đạo phú”, có thể tìm thấy nhiều câu thể hiện rõ mức độ am hiểu sâu sắc, cũng như sự thừa nhận, tôn trọng của Trần Nhân Tông đối với Nho, Đạo.
Tuy nhiên, tinh thần tự nhiệm mà Trần Nhân Tông nêu cao chủ yếu đến từ tình yêu quê hương, đất nước và nhân dân tha thiết của Ngài. Hình ảnh quê hương, đất nước ở Trần Nhân Tông thật đẹp và tình yêu mà Ngài dành cho quê hương, đất nước thật rộng lớn. Đó là tình yêu với giang sơn hoa gấm, với mảnh đất quê hương nơi có những hương dân hiền hòa, có những mái tranh tỏa khói lam chiều, với văn hóa, phong tục, tập quán dân tộc.
Chính tình yêu quê hương, đất nước tha thiết ấy làm cho tinh thần, ý thức trách nhiệm luôn thường trực trong lòng Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Đó là “nỗi lo đất nước khỏi nung sôi”, là niềm vui sướng vỡ òa khi đuổi sạch quân xâm lược khỏi Tổ quốc, là niềm hạnh phúc viên mãn khi đất nước thái bình.
Tinh thần tự nhiệm còn hình thành từ thực tiễn Ngài cùng với quân dân Đại Việt đi qua hai cuộc kháng chiến hào hùng chống quân xâm lược Mông Nguyên. Hơn ai hết, Trần Nhân Tông hiểu rõ nền tảng của đất nước và vương triều là nhân dân, là những người mà thói thường coi là hạ đẳng. Chính sự hăng hái lao động sản xuất trong thời bình, xông pha hòn tên, mũi đạn, chẳng quản hy sinh trong thời chiến của nhân dân mới là nguồn sức mạnh để xây dựng và bảo vệ đất nước.
Với ý thức như thế, Trần Nhân Tông cho rằng, khi đất nước lâm nguy, sinh mệnh con người bị chà đạp, “sinh linh một phương phải chịu lầm than”, “lớn thì bị giết chết, nhỏ thì bắt đi, cho đến treo trói, xẻ mổ, mình đầu khắp chốn”, thì người tu hành chứng Đạo phải phát tâm Từ Bi, diệt trừ lũ ác ma để cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn.

Có thể bạn quan tâm: Phật Giáo Nguyên Thủy Có Địa Ngục Không?
Cũng với ý thức như thế, khi mà trong chùa chiền “chẳng riêng người tục, cả đến thầy Tăng, kinh luận tranh giành, cùng nhau công kích, chê các sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha, có nhẫn lụi vàng, lửa độc rực cháy, buông lời đau vật, cất tiếng hại người, không nghĩ từ bi, không theo luật cấm, bàn thiền tựa thánh, trước cảnh như ngu, dẫu ở cửa không, chưa thành vô ngã”; trong xã hội “các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường thết yến sứ ngụy mà không biết căm, hoặc lấy chọi gà làm vui, hoặc lấy đánh bạc làm thú, hoặc chăm chút vườn ruộng để nuôi gia đình, hoặc quyến luyến vợ con chỉ vì ích kỷ, hoặc lo làm giàu mà quên việc quân việc nước, hoặc ham săn bắn mà bỏ việc đánh việc phòng, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát”, v.v., thì người tu hành chứng Đạo cũng phải dấn thân để chấn chỉnh tự phong, dân tục.
Và cũng với ý thức như thế, khi mà trong đời sống tín ngưỡng của nhân dân, mê tín dị đoan lan tràn làm mê hoặc nhân trí, rối loạn nhân tâm, thì người tu hành chứng Đạo phải ra tay phá bỏ dâm từ, giáo dục thập thiện, v.v.
Người tu Phật hòa mình cùng dân tộc, và tất cả hành xử nhập thế của Phật giáo chính tông cần phải dựa trên và thể hiện ý thức sâu sắc về trách nhiệm đối với Tổ quốc, đối với dân tộc, đối với cuộc đời và đối với con người, đó là tư tưởng Phật giáo nhập thế rất đặc sắc của Trần Nhân Tông.
Thứ hai: Trên hành trình nhập thế, người tu phải tránh “thời tiết nhân duyên”, tránh “nhuốm căn trần huyên náo”
Muốn vậy, người tu cần “nhận biết làu làu lòng vốn”, “chùi cho vằng vặc tính gương”, v.v. Trong “Cư trần lạc đạo phú” và “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca”, Trần Nhân Tông đã chỉ ra một cách cụ thể, hệ thống các phép tu và các Phật quả cần đạt tới, coi đó là cơ sở để người tu nhập thế miễn nhiễm bụi trần ai. Đây là một chỉ dẫn rất quan trọng của Trần Nhân Tông đối với Phật giáo nhập thế.
Người tu Phật nhập thế mà giác ngộ chưa sâu, đạo hạnh chưa đủ, thì rất dễ bị trầm luân, tập nhiễm bụi bặm trong cõi nhân sinh, không những không giác tha, độ thế được, mà trái lại còn hại mình, hại người, làm cho thế sự, nhân tâm thêm rối loạn. Ngài chỉ rõ:
“Phô người học đạo,
Vô số nhiều thay;
Trúc hoá nên rồng,
Một hai là hoạ.
Bởi lòng vờ vịt,
Trỏ Bắc làm Nam”.
Người tu Phật nhập thế cần có thái độ thận trọng và cảnh giác, cũng như thế gian cũng cần thận trọng và cảnh giác trước những người nhập thế nhân danh Phật như thế.
Thứ ba: Nhập thế cũng chính là đường tu
Quan điểm “tức Tâm tức Phật” đã được các Tổ, Thầy nêu lên từ trước, nhưng đến Trần Nhân Tông, tư tưởng đó càng được khẳng định mạnh mẽ, trở thành một cơ sở của Phật giáo nhập thế. Vì sao Phật giáo cần và có thể nhập thế? Đó là bởi vì, Phật vốn tại thế, vốn tại tâm. Trần Nhân Tông chỉ rõ:
“Chỉn Bụt là lòng, xá ướm hỏi đòi cơ Mã tổ”.
Và:
“Bụt ở cong nhà; chẳng phải tìm xa.
Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt; đến cóc hay chỉn Bụt là ta”.
Nếu Phật tại thế, Phật tại tâm, thì con đường tu, con đường chứng Phật quả cũng phải tại thế, tại tâm, chứ không phải xuất thế gian, rời nhân tâm. Cho nên:
“Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương;
Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc”.
Và:
“Biết chân như, tin bát nhã, chớ còn tìm Phật, Tổ Tây Đông;
Chứng thực tướng, ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc”.
Theo tinh thần như thế, nhập thế là trách nhiệm của người tu và cũng chính là đường tu. Con đường tu chân chính là con đường tại thế. Cho nên, để chứng Phật quả, người tu không nhất định phải ở chốn “sơn lâm”, “cánh diều Yên tử” hay “am Sạn non Đông”; và dù có “khuất tịch non cao/náu mình sơn dã” thì vẫn “thân lòng hỷ xả”. Ở nơi thành thị mà “nết dùng sơn lâm”, “trần tục mà nên” thì “phúc ấy càng yêu hết tấc”, còn hơn là “sơn lâm chẳng cóc” bởi “hoạ kia thực cả đồ công”. Người tu Phật nhập thế vừa để hành đạo, vừa qua hành đạo mà tu tập, chứng quả, đó là quan niệm độc đáo của Trần Nhân Tông về Phật giáo nhập thế.
Thứ tư: Phật giáo nhập thế cần được tổ chức và lan toả trở thành một hoạt động cộng đồng
Vấn đề xây dựng tổ chức Phật giáo và thông qua tổ chức Phật giáo để triển khai Phật giáo nhập thế là một tư tưởng lớn của Trần Nhân Tông. Có thể thấy, với trải nghiệm sâu sắc của một người tu Phật nhập thế, đồng thời là người đã có một thời gian dài ở vị trí lãnh đạo cao nhất của đất nước, Phật Hoàng Trần Nhân Tông thấy rõ vai trò và sức mạnh của tổ chức trong việc đảm bảo cho tính định hướng và hiệu quả của Phật giáo nhập thế.
Trong “Cư trần lạc đạo phú”, có thể thấy tư tưởng nói trên của Phật Hoàng thể hiện ở những câu như:
“Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân;
Học đạo thợ thầy, dọt xương óc chưa thông của báo”.

Có thể bạn quan tâm: Phật Giáo Khánh Hòa Với Pháp Nạn 1963
Và:
“Nguyền mong thân cận minh sư, quả bồ đề một đêm mà chín;
Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đơm bông”.
Coi trọng “thầy” hay “minh sư”, “bạn” hay bậc “thiện tri thức”, đó chính là tư tưởng về liên kết và tổ chức trong triển khai Phật giáo nhập thế.
Tư tưởng về vai trò của tổ chức trong Phật giáo nhập thế cũng như về việc làm cho Phật giáo nhập thế trở thành hoạt động mang tính cộng đồng của Trần Nhân Tông có tính gợi mở sâu sắc cho tổ chức Phật giáo cũng như cho người cầm quyền nếu muốn phát huy vai trò của Phật giáo trong giải quyết những vấn đề của xã hội và nhân sinh một cách phù hợp.
Giá trị tư tưởng Phật giáo nhập thế của Trần Nhân Tông trong thời đại hiện nay
Giá trị đối với người tu Phật nhập thế
Tư tưởng Phật giáo nhập thế của Trần Nhân Tông cung cấp những định hướng quan trọng cho người tu Phật nhập thế hiện nay. Trước hết, đó là tinh thần tự nhiệm trước Tổ quốc, dân tộc, xã hội và con người. Người tu Phật nhập thế cần có ý thức trách nhiệm sâu sắc, không chỉ đối với bản thân mà còn đối với cộng đồng, xã hội. Thứ hai, người tu Phật nhập thế cần có căn cơ giác ngộ và đạo hạnh để tránh bị ô nhiễm bởi xã hội và thực hiện thành công mục tiêu giác tha, độ thế. Thứ ba, nhập thế tự thân là con đường tu Phật, người tu cần hiểu rõ điều đó để không bị lạc lối, không bị cuốn vào những hoạt động xã hội mà quên đi mục tiêu giải thoát. Thứ tư, người tu Phật nhập thế cần tham gia vào các tổ chức Phật giáo, thông qua tổ chức để triển khai các hoạt động nhập thế một cách có hiệu quả.
Giá trị đối với tổ chức Phật giáo
Tư tưởng Phật giáo nhập thế của Trần Nhân Tông cũng có giá trị to lớn đối với tổ chức Phật giáo hiện nay. Tổ chức Phật giáo cần nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong xã hội, cần có những chính sách, chương trình, hoạt động phù hợp để phát huy tinh thần nhập thế của Phật giáo. Tổ chức Phật giáo cần quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ tu sĩ có đủ trình độ, năng lực, đạo hạnh để tham gia vào các hoạt động nhập thế. Tổ chức Phật giáo cần có những biện pháp để ngăn ngừa, loại bỏ những biến tướng, biến chất nhân danh nhập thế.
Giá trị đối với chính quyền
Tư tưởng Phật giáo nhập thế của Trần Nhân Tông cũng có giá trị đối với chính quyền hiện nay. Chính quyền cần nhận thức rõ vai trò và đóng góp của Phật giáo trong xã hội, cần có những chính sách, pháp luật phù hợp để tạo điều kiện cho Phật giáo phát huy tinh thần nhập thế. Chính quyền cần có những biện pháp để quản lý, giám sát các hoạt động của Phật giáo, đảm bảo các hoạt động đó không vi phạm pháp luật, không gây phương hại đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Kết luận: Hướng tới một Phật giáo nhập thế chân chính, hiệu quả và bền vững
Phật giáo nhập thế là một hiện thực, có lịch sử lâu dài như lịch sử của Đạo Phật nói chung. Trong thời hiện đại, xu thế ấy càng trở nên mạnh mẽ, và được phản ánh trong các khái niệm như “Engaged Buddhism”, “Nhân sinh Phật giáo”, “Nhân gian Phật giáo”, “Đạo Phật đi vào cuộc đời”, v.v. Các khái niệm đó là sự kết tinh những nét đặc sắc, bản chất của hiện thực Phật giáo nhập thế.
Tuy nhiên, nhìn trong chiều tác động trở lại, việc xây dựng một tư tưởng, quan điểm, quan niệm đúng về Phật giáo nhập thế sẽ góp phần làm cho Phật giáo nhập thế trong hiện thực đi đúng đường, phát huy vai trò “hộ quốc, an dân”, “lợi lạc quần sinh”.
Tư tưởng của Phật Hoàng Trần Nhân Tông về Phật giáo nhập thế tuy không được chuyển tải trong một khái niệm tư tưởng tương tự với các khái niệm hiện đại, nhưng lại bao quát những quan điểm hết sức sâu sắc, thiết thực, có ý nghĩa không chỉ cho người tu Phật nhập thế, mà còn cho cả tổ chức Giáo hội cũng như chính quyền. Bốn quan điểm lớn về Phật giáo nhập thế là sự thể hiện tinh thần tự nhiệm của người tu trước cộng đồng; về người tu Phật nhập thế cần phải có căn cơ giác ngộ và đạo hạnh để tránh bị ô nhiễm bởi xã hội và thực hiện thành công mục tiêu giác tha, độ thế; về Phật giáo nhập thế tự thân là con đường tu Phật và về vai trò của tổ chức Phật giáo trong việc triển khai hoạt động Phật giáo nhập thế cũng như lan toả để Phật giáo nhập thế trở thành hoạt động có tính cộng đồng mà chúng tôi bước đầu phân tích ở trên là những tư tưởng có giá trị và sức sống vượt thời gian, có thể góp phần làm cho Phật giáo nhập thế trong hiện thực đi đúng “chính đạo”, hữu ích cho đạo, cho đời.
Những quan điểm này cần tiếp tục được đi sâu nghiên cứu và ứng dụng hiện nay. Chỉ khi nào Phật giáo nhập thế được hiểu đúng, thực hiện đúng, thì mới có thể phát huy hết tiềm năng, vai trò và đóng góp to lớn của Phật giáo trong việc xây dựng một xã hội tốt đẹp, công bằng, văn minh, hạnh phúc.
Tài liệu tham khảo:
- Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb. CTQG, Hà Nội.
- Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng.
- Lao Tử, Thịnh Lê chủ biên (2001), Từ điển Nho, Phật, Đạo, Nxb. Văn học, Hà Nội.
- Thích Nhất Hạnh (1964), Đạo Phật đi vào cuộc đời, Nxb. Lá Bối, Sài Gòn.
- Thích Nhất Hạnh, Lịch sử đạo Bụt nhập thế, https://thuvienhoasen.org/a11671/lich-su-dao-but-nhap-the-nhat-hanh, truy cập ngày 1/12/2017.
- Thích Nhất Hạnh, Hoa sen trong biển lửa, https://thuvienhoasen.org/a11534/hoa-sen-trong-bien-lua-nhat-hanh, truy cập ngày 1/12/2017.
- Allie B. King (2009), Socially Engaged Buddhism – Dimensions of Asian Spirituality, University of Hawaii press, Honolulu.
- Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb. Phương Đông, Tp. Hồ Chí Minh.
- Đại Việt sử ký toàn thư (1998), Nxb. KHXH, Hà Nội.
- Đại sư Tinh Vân (1997), Phật quang học, Phật Quang sơn tôn vụ uỷ viên hội, Cao Hùng.
- Đại sư Tinh Vân (1995), Phật Quang tùng thư (10) – Phật giáo nhân gian, Phật Quang sơn tôn vụ uỷ viên hội, Quốc tế Phật Quang hội Thế giới Tổng hội.
Cập Nhật Lúc Tháng 1 21, 2026 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân
