Rằm tháng Giêng, hay còn gọi là Tết Nguyên Tiêu, là một trong những dịp lễ quan trọng nhất trong năm theo văn hóa Á Đông, đặc biệt là tại Việt Nam. Vào ngày này, bên cạnh việc sum họp gia đình, thưởng thức những món ăn truyền thống, rất nhiều gia đình còn thực hiện nghi lễ cúng giải hạn. Bài cúng giải hạn rằm tháng Giêng không chỉ là một nghi thức tâm linh, mà còn thể hiện niềm tin sâu sắc của con người vào việc xua tan vận xui, cầu mong một năm mới an lành, may mắn và thành công. Dù bạn có theo đạo hay không, việc hiểu rõ về ý nghĩa, nội dung và cách thức thực hiện nghi lễ này đều là điều cần thiết để có thể tham gia một cách thành kính và đúng đắn.
Có thể bạn quan tâm: Bài Cúng Giã Tết: Hướng Dẫn Chuẩn Chỉnh Cho Ngày Tết Cổ Truyền
Ý Nghĩa Của Việc Cúng Giải Hạn Rằm Tháng Giêng
Niềm Tin Dân Gian Về Sự Luân Chuyển Vận Hạn
Trong văn hóa dân gian Việt Nam, con người tin rằng cuộc đời mỗi cá nhân đều trải qua những giai đoạn thăng trầm, may rủi. Những năm “xấu” thường được gọi là “hạn”, trong khi những năm “tốt” được gọi là “cát”. Học thuyết này bắt nguồn từ sự quan sát tinh tế về tự nhiên và vũ trụ, kết hợp với các yếu tố triết học phương Đông như Âm – Dương, Ngũ hành. Người xưa cho rằng, mỗi người khi sinh ra đều chịu ảnh hưởng của các sao chiếu mệnh, và những sao này luân chuyển theo một chu kỳ nhất định. Khi một sao “xấu” chiếu vào, con người dễ gặp phải những điều không may mắn trong cuộc sống, từ sức khỏe, công việc đến các mối quan hệ. Việc cúng giải hạn, do đó, được xem như một cách để hóa giải, giảm nhẹ những tác động tiêu cực từ các sao xấu, đồng thời cầu mong sự phù hộ của các vị thần linh, tổ tiên.
Rằm Tháng Giêng: Thời Điểm “Vàng” Để Giải Hạn
Rằm tháng Giêng, tức ngày 15 tháng Giêng âm lịch, là ngày trăng tròn đầu tiên của năm mới. Trong quan niệm dân gian, đây là thời điểm mà âm khí đạt đến đỉnh điểm, đồng thời cũng là lúc mà dương khí bắt đầu có dấu hiệu hồi phục. Trăng tròn tượng trưng cho sự viên mãn, đầy đủ, và là biểu tượng cho sự giao thoa giữa âm và dương. Chính vì vậy, đây được coi là thời điểm lý tưởng để thực hiện các nghi lễ tâm linh, đặc biệt là lễ cúng giải hạn. Việc cúng giải hạn vào ngày này được tin rằng sẽ có hiệu quả mạnh mẽ hơn, bởi vì:

Có thể bạn quan tâm: Bài Cúng Giải Hạn Nam Sinh Năm 1979 Năm 2026: Hướng Dẫn Chi Tiết Và Đầy Đủ
- Sức mạnh tâm linh được cho là lớn nhất: Khi trăng tròn, năng lượng vũ trụ được cho là mạnh mẽ và dồi dào nhất, giúp các lời khấn nguyện dễ dàng được “thấu đến trời cao”.
- Đánh dấu một khởi đầu mới: Rằm tháng Giêng là dịp để gia đình sum họp, tưởng nhớ tổ tiên. Đây cũng là thời điểm lý tưởng để “tẩy rửa” những điều không may mắn của năm cũ và cầu mong một khởi đầu mới tốt đẹp.
- Tạo động lực tinh thần: Dù là niềm tin hay không, thì việc thực hiện nghi lễ cúng giải hạn cũng mang lại một cảm giác an tâm, giúp con người có thêm niềm tin và động lực để bắt đầu một năm mới.
Tác Dụng Tâm Lý Và Xã Hội Của Nghi Lễ
Ngoài giá trị tâm linh, bài cúng giải hạn rằm tháng Giêng còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý và xã hội. Việc cùng nhau chuẩn bị mâm lễ, tụ họp gia đình, cùng nhau khấn vái tổ tiên là một cách để củng cố tình cảm gia đình, gìn giữ các giá trị truyền thống. Đồng thời, đây cũng là một hình thức “rút lui” tinh thần, giúp con người tạm thời gác lại những lo toan, muộn phiền, để hướng về những điều tích cực, tốt đẹp hơn. Dù bạn có tin vào thế giới tâm linh hay không, thì việc tham gia vào các nghi lễ truyền thống như vậy cũng là một cách để nuôi dưỡng tâm hồn, tạo dựng niềm tin và hy vọng cho một tương lai tốt đẹp hơn.
Các Loại Hạn Thường Gặp Trong Năm
Hạn Toán Tận (Sao Thái Bạch)
Hạn Toán Tận, hay còn gọi là “Sao Thái Bạch”, là một trong những hạn được nhắc đến nhiều nhất trong các bài cúng giải hạn. Theo quan niệm dân gian, sao Thái Bạch là một sao xấu, đặc biệt là đối với nam giới. Những người gặp hạn này thường phải đối mặt với những rủi ro về sức khỏe, đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hóa, gan, mật. Ngoài ra, hạn Toán Tận còn có thể gây ra những bất lợi trong công việc, làm ăn, dễ gặp phải những chuyện thị phi, kiện tụng. Để hóa giải hạn Toán Tận, người ta thường cúng vào ngày mùng 2, 8, 16, 22 âm lịch hàng tháng, với lễ vật bao gồm hương, hoa, trái cây, bánh kẹo, và một con gà luộc. Việc thực hiện lễ cúng này được tin rằng sẽ giúp giảm nhẹ những tác động tiêu cực của sao xấu, mang lại bình an và may mắn cho gia chủ.
Hạn Kim Lâu

Có thể bạn quan tâm: Bài Cúng Giải Giờ Quan Sát: Hướng Dẫn Chi Tiết, Ý Nghĩa Và Cách Thực Hiện
Hạn Kim Lâu là một trong những hạn mà hầu hết mọi người đều biết đến, đặc biệt là trong các dịp cưới xin, xây dựng nhà cửa. Theo quan niệm dân gian, những người phạm phải hạn Kim Lâu sẽ gặp phải những điều không may mắn, đặc biệt là trong các công việc lớn như kết hôn, sinh con, hoặc xây dựng nhà cửa. Cụ thể, người phạm Kim Lâu cưới vợ thì vợ mất; làm nhà thì người trong nhà bị bệnh tật; sinh con thì con khó nuôi. Để tính hạn Kim Lâu, người ta thường dựa vào tuổi của người đó. Có nhiều cách để tính hạn Kim Lâu, một trong những cách phổ biến nhất là lấy tuổi chia cho 9, nếu số dư là 1, 3, 6, hoặc 8 thì người đó phạm Kim Lâu. Việc cúng giải hạn Kim Lâu thường được thực hiện vào ngày mùng 9 tháng Giêng, với lễ vật bao gồm hương, hoa, trái cây, bánh kẹo, và một con gà luộc. Ngoài ra, người ta cũng có thể “mượn tuổi” của một người không phạm Kim Lâu để thực hiện các công việc lớn, nhằm tránh được những điều xui xẻo.
Hạn Tam Tai
Hạn Tam Tai là một trong những hạn kéo dài trong ba năm liên tiếp. Theo quan niệm dân gian, mỗi người đều có một bộ ba con giáp đại diện cho ba năm Tam Tai. Trong ba năm này, người ta tin rằng sẽ gặp phải nhiều điều xui xẻo, đặc biệt là về sức khỏe, công việc, và các mối quan hệ. Để hóa giải hạn Tam Tai, người ta thường cúng giải hạn vào ngày mùng 1 hoặc 15 âm lịch, với lễ vật bao gồm hương, hoa, trái cây, bánh kẹo, và một con gà luộc. Ngoài ra, người ta cũng có thể thực hiện các việc thiện, như giúp đỡ người nghèo, làm công quả ở chùa, để tích đức, cầu mong được hóa giải hạn Tam Tai. Việc cúng giải hạn Tam Tai không chỉ giúp giảm nhẹ những tác động tiêu cực mà còn là một cách để nhắc nhở con người sống thiện lành, hướng thiện, và có trách nhiệm hơn với bản thân và xã hội.
Các Loại Hạn Khác
Ngoài ba loại hạn phổ biến trên, trong văn hóa dân gian Việt Nam còn có rất nhiều loại hạn khác nhau, mỗi loại hạn đều có những đặc điểm và cách hóa giải riêng biệt. Ví dụ như:
- Hạn Hoang Ốc: Thường ảnh hưởng đến việc xây dựng nhà cửa, mua bán đất đai.
- Hạn Ngũ Thọ: Ảnh hưởng đến sức khỏe, đặc biệt là về tuổi thọ.
- Hạn Thiên Tinh: Ảnh hưởng đến công việc, làm ăn.
- Hạn Địa Tai: Ảnh hưởng đến gia đình, các mối quan hệ.
Mỗi loại hạn đều có những cách tính toán và hóa giải riêng biệt, và việc cúng giải hạn là một trong những cách phổ biến nhất để giảm nhẹ những tác động tiêu cực của các hạn này. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là con người cần có một thái độ sống tích cực, lạc quan, và luôn hướng về những điều tốt đẹp. Dù có gặp phải bất kỳ hạn nào, thì chỉ cần sống thiện lành, làm việc tốt, thì chắc chắn sẽ có được một cuộc sống an lành, hạnh phúc.

Có thể bạn quan tâm: Bài Cúng Giải Căn: Hướng Dẫn Chi Tiết, Ý Nghĩa Và Những Điều Cần Biết
Văn Khấn Giải Hạn Rằm Tháng Giêng
Cấu Trúc Của Một Bài Văn Khấn
Một bài văn khấn giải hạn rằm tháng Giêng thường có cấu trúc rõ ràng, bao gồm các phần chính: khai lễ, khấn tạ, khấn xin, và kết lễ. Mỗi phần đều có một ý nghĩa riêng biệt, và việc tuân thủ đúng cấu trúc sẽ giúp cho lời khấn nguyện trở nên trang nghiêm, thành kính, và có hiệu quả hơn. Phần khai lễ thường là lời thỉnh mời các vị thần linh, tổ tiên về chứng giám cho buổi lễ. Phần khấn tạ là lời cảm ơn của gia chủ đối với các vị thần linh, tổ tiên đã phù hộ cho gia đình trong suốt thời gian qua. Phần khấn xin là phần quan trọng nhất, nơi gia chủ trình bày nguyện vọng, mong ước của mình, xin được hóa giải hạn xấu, cầu mong một năm mới an lành, may mắn. Cuối cùng, phần kết lễ là lời cảm ơn, tiễn đưa các vị thần linh, tổ tiên về nơi xa, và khép lại buổi lễ một cách trang nghiêm.
Nội Dung Văn Khấn Truyền Thống
Dưới đây là nội dung của một bài văn khấn giải hạn rằm tháng Giêng truyền thống, được sử dụng phổ biến trong các gia đình Việt Nam. Bài văn khấn này được viết bằng chữ Hán Nôm, sau đó được dịch ra tiếng Việt để dễ dàng đọc và hiểu. Tuy nhiên, trong một số gia đình, người ta vẫn giữ nguyên văn bản chữ Hán Nôm để đọc, nhằm thể hiện sự trang nghiêm, thành kính đối với các vị thần linh, tổ tiên.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Nam mô Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn Thần,
Nam mô Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân,
Nam mô Bản Gia Táo Quân,
Nam mô Bản Gia Thổ Công,
Nam mô Bản Gia Thổ Địa,
Nam mô Bản Gia Tài Thần,
Nam mô Bản Gia Gia Tiên,
Nam mô Cửu Trùng Thanh Vân Cảm ứng Thượng Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô Tam Toà Đại Đế,
Nam mô
Cập Nhật Lúc Tháng 1 2, 2026 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân
