Trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, việc thờ cúng tổ tiên và các vị thần linh là một nét văn hóa truyền thống thiêng liêng, thể hiện lòng thành kính, biết ơn và mong muốn cầu mong bình an, may mắn cho gia đình. Một trong những nghi lễ quan trọng không thể thiếu trong các dịp lễ lớn, đặc biệt là dịp Tết Nguyên Đán, là lễ cúng xỉa thổ công về nhà. Đây là nghi lễ tưởng nhớ và mời gọi các vị thần linh, đặc biệt là Thổ Công – vị thần cai quản đất đai, phù hộ cho gia đình, về sum họp cùng gia đình trong những ngày lễ, Tết.
Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm rõ về nghi lễ này, từ ý nghĩa, thời gian thực hiện đến bài khấn xỉa thổ công về nhà cúng đúng chuẩn. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho bạn những thông tin chi tiết, đầy đủ và chính xác nhất về lễ cúng xỉa thổ công, giúp bạn thực hiện nghi lễ một cách trang trọng, thành kính và đúng phong tục.
Có thể bạn quan tâm: Bài Khấn Cúng Ông Táo Ngày 23 Tháng Chạp: Văn Khấn, Lễ Vật Và Ý Nghĩa
Tìm hiểu về lễ cúng xỉa thổ công về nhà
Khái niệm và ý nghĩa của lễ cúng xỉa thổ công
Lễ cúng xỉa thổ công (còn được gọi là lễ cúng mời thổ công, lễ cúng Thổ Công, lễ cúng xỉa đất) là một nghi lễ truyền thống của người Việt Nam, được tổ chức vào các dịp lễ, Tết, đặc biệt là Tết Nguyên Đán, nhằm mời các vị thần linh, đặc biệt là Thổ Công, về nhà sum họp cùng gia đình.

Có thể bạn quan tâm: Bài Khấn Tế Cúng Di Lặc Tiên Quang Phật: Hướng Dẫn Từ A-z
Thổ Công (hay còn gọi là Thổ Địa, Thổ Thần, Thổ Kỳ) là vị thần cai quản đất đai, phù hộ cho gia đình, làng xóm, giúp gia đình làm ăn phát đạt, sức khỏe dồi dào, gia đình hạnh phúc. Theo quan niệm dân gian, Thổ Công là một trong những vị thần quan trọng nhất trong “Tứ Bất Chính” (bốn vị thần không chính thức), cùng với Thổ Kỳ, Thổ Địa, Thổ Thần, và Thổ Tướng.
Ý nghĩa của lễ cúng xỉa thổ công:
- Tưởng nhớ và biết ơn: Thể hiện lòng thành kính, biết ơn đối với các vị thần linh đã phù hộ cho gia đình trong suốt một năm qua.
- Mời gọi về sum họp: Mời các vị thần linh về nhà sum họp, cùng gia đình đón Tết, chia sẻ niềm vui, hạnh phúc.
- Cầu mong bình an, may mắn: Cầu mong các vị thần linh phù hộ cho gia đình một năm mới an khang, thịnh vượng, sức khỏe dồi dào, làm ăn phát đạt.
- Gắn kết gia đình: Là dịp để các thành viên trong gia đình cùng nhau chuẩn bị, thực hiện nghi lễ, tạo nên không khí ấm cúng, đoàn viên.
Thời gian thực hiện lễ cúng xỉa thổ công
Thời gian thực hiện lễ cúng xỉa thổ công có thể khác nhau tùy theo từng vùng miền, từng gia đình, nhưng thông thường được tổ chức vào các ngày sau:
- Ngày 23 tháng Chạp (Tết ông Công, ông Táo): Đây là thời điểm quan trọng nhất để thực hiện lễ cúng xỉa thổ công. Vào ngày này, người ta tin rằng Thổ Công (cùng với Thổ Kỳ, Thổ Địa) sẽ về trời để báo cáo với Ngọc Hoàng về những việc làm tốt, xấu của gia đình trong năm qua. Vì vậy, sau khi tiễn Thổ Công về trời, gia đình sẽ tổ chức lễ cúng xỉa thổ công để mời các vị thần linh về nhà sum họp.
- Ngày 30 tháng Chạp (Tất Niên): Đây là ngày cuối cùng của năm, gia đình sẽ tổ chức lễ cúng Tất Niên để tưởng nhớ tổ tiên, cảm ơn các vị thần linh đã phù hộ cho gia đình trong suốt một năm qua, đồng thời mời các vị thần linh về nhà sum họp trong những ngày Tết.
- Ngày mùng 1 Tết (Tết Nguyên Đán): Đây là ngày đầu tiên của năm mới, gia đình sẽ tổ chức lễ cúng Tất Niên và cúng Thổ Công để cầu mong một năm mới an khang, thịnh vượng.
- Các ngày lễ, Tết khác: Ngoài các ngày trên, lễ cúng xỉa thổ công cũng có thể được tổ chức vào các dịp lễ, Tết khác như Tết Trung Thu, Tết Đoan Ngọ, Tết Hàn Thực, giỗ tổ, cưới hỏi, động thổ, nhà mới, động thổ, động thổ, động thổ…
Lưu ý: Thời gian cụ thể để thực hiện lễ cúng xỉa thổ công có thể khác nhau tùy theo từng vùng miền, từng gia đình. Tuy nhiên, thông thường, lễ cúng được tổ chức vào buổi sáng hoặc buổi chiều của các ngày trên.

Có thể bạn quan tâm: Bài Khấn Cúng Ống Táo: Ý Nghĩa, Thời Gian Và Lễ Vật Cần Chuẩn Bị
Hướng dẫn chuẩn bị lễ vật cho lễ cúng xỉa thổ công
Mâm lễ vật cúng xỉa thổ công
Mâm lễ vật cúng xỉa thổ công cần được chuẩn bị một cách trang trọng, đầy đủ, thể hiện lòng thành kính của gia đình đối với các vị thần linh. Dưới đây là một số lễ vật cơ bản thường được sử dụng:
1. Hương, hoa:
- Hương: 3 cây hương (hoặc 5 cây hương) được thắp lên để thỉnh mời các vị thần linh.
- Hoa: Một bình hoa tươi (hoa cúc, hoa lay ơn, hoa hồng, hoa sen…) được đặt trên bàn thờ.
2. Trái cây:
- Một đĩa trái cây tươi (5 loại trái cây: táo, cam, quýt, chuối, bưởi, dưa hấu, thanh long, mãng cầu…) được bày biện đẹp mắt.
3. Bánh kẹo:
- Một đĩa bánh kẹo (bánh chưng, bánh tét, bánh mứt, kẹo mứt…) được đặt trên bàn thờ.
4. Rượu, trà:
- Một ấm trà (hoặc chén trà) và một chai rượu (hoặc một ly rượu) được đặt trên bàn thờ.
5. Nước:
- Một ly nước lọc được đặt trên bàn thờ.
6. Gà luộc:
- Một con gà luộc (hoặc một phần gà luộc) được đặt trên bàn thờ. Gà luộc tượng trưng cho sự no đủ, ấm no.
7. Xôi:
- Một đĩa xôi (xôi gấc, xôi đậu xanh, xôi nếp…) được đặt trên bàn thờ. Xôi tượng trưng cho sự đoàn viên, hạnh phúc.
8. Bánh chưng, bánh tét:
- Một chiếc bánh chưng hoặc bánh tét được đặt trên bàn thờ. Đây là món ăn truyền thống của người Việt Nam trong dịp Tết, tượng trưng cho sự no đủ, ấm no.
9. Muối, gạo:
- Một chén muối, một chén gạo được đặt trên bàn thờ. Muối, gạo là hai thứ thiết yếu trong đời sống hàng ngày, tượng trưng cho sự no đủ, ấm no.
10. Đèn, nến:
- Một cây đèn, một cây nến được thắp lên để soi sáng cho các vị thần linh.
11. Giấy tiền, vàng mã:
- Một ít giấy tiền, vàng mã được đốt để cúng các vị thần linh.
12. Các lễ vật khác (tùy theo điều kiện, phong tục từng gia đình):
- Bánh mứt, kẹo: Các loại bánh mứt, kẹo được đặt trên bàn thờ.
- Trái cây khô: Các loại trái cây khô như quả khô, hạt khô được đặt trên bàn thờ.
- Bánh ngọt: Các loại bánh ngọt được đặt trên bàn thờ.
- Các món ăn truyền thống: Các món ăn truyền thống của từng vùng miền được đặt trên bàn thờ.
Cách bày trí mâm lễ vật

Có thể bạn quan tâm: Bài Khấn Cúng Đầu Năm Mùng 9 Tết Kỷ Hơi: Nghi Thức, Ý Nghĩa Và Bài Văn Khấn Chuẩn
- Bàn thờ: Bàn thờ cần được lau chùi sạch sẽ, trang trí gọn gàng, trang trọng.
- Sắp xếp lễ vật: Các lễ vật được sắp xếp một cách hài hòa, đẹp mắt, thể hiện lòng thành kính của gia đình.
- Hương, hoa: Được đặt ở vị trí trung tâm của bàn thờ.
- Trái cây, bánh kẹo: Được đặt ở hai bên của hương, hoa.
- Rượu, trà, nước: Được đặt ở phía trước của hương, hoa.
- Gà luộc, xôi, bánh chưng, bánh tét: Được đặt ở phía sau của hương, hoa.
- Muối, gạo: Được đặt ở hai bên của bàn thờ.
- Đèn, nến: Được đặt ở phía trước của bàn thờ.
- Giấy tiền, vàng mã: Được đặt ở một góc của bàn thờ.
Bài khấn xỉa thổ công về nhà cúng đúng chuẩn
Văn khấn xỉa thổ công về nhà cúng
Dưới đây là bài khấn xỉa thổ công về nhà cúng đúng chuẩn, được sử dụng phổ biến trong các gia đình Việt Nam:
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
Nam mô thập phương pháp giới chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng.
Nam mô Đức Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật.
Nam mô Đức Bồ Tát Quán Thế Âm.
Nam mô Đức Bồ Tát Đại Thế Chí.
Nam mô Đức Bồ Tát Địa Tạng Vương.
Nam mô Đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi.
Nam mô Đức Bồ Tát Phổ Hiền.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát Hư Không Tạng.
Nam mô Đức Bồ Tát H
Cập Nhật Lúc Tháng 1 4, 2026 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân
