Có thể bạn quan tâm: Truy Tìm Đầu Tượng Phật: Hành Trình Khám Phá Những Bí Ẩn Văn Hóa
Trà Thiền – Nơi Giao Thoa Giữa Tâm Linh Và Hương Vị
Từ ngàn xưa, các danh lam cổ tự tại Trung Hoa luôn ẩn hiện giữa non xanh nước biếc, nơi có khí hậu mát mẻ lý tưởng cho sự phát triển của cây trà. Không chỉ là nơi tu hành, các chùa chiền này còn là những vườn ươm tinh hoa trà đạo, nơi các vị tăng ni đã phát hiện và lưu truyền những loại trà quý hiếm cho hậu thế. Những câu chuyện kỳ diệu về mối duyên phận giữa Phật giáo và trà đã trở thành những truyền thuyết bất hủ, làm phong phú thêm nền văn hóa thiền trà đặc sắc.
Có thể bạn quan tâm: Truy Tìm Tượng Phật Thuyết Minh: Hành Trình Giải Mã Bí Ẩn Văn Hóa & Tôn Giáo
Huyền Thoại Thiết Quan Âm – Món Quà Từ Giấc Mơ Bồ Tát
Câu Chuyện Về Lá Trà Như Sắt

Có thể bạn quan tâm: Truyền Thuyết Phật Pháp: Câu Chuyện Về Phật Mẫu Man Nương Và Bốn Ngôi Chùa Linh Thiêng
Vào năm Càn Long thứ hai (1737) dưới triều đại nhà Thanh, tại huyện An Khê, tỉnh Phúc Kiến, có một người tên là Ngụy Ẩm. Ông là một Phật tử mộ đạo, mỗi buổi sáng đều dâng cúng một chén trà ngon trước tượng Quán Thế Âm Bồ Tát. Việc này diễn ra đều đặn, chưa từng gián đoạn.
Một đêm nọ, Ngụy Ẩm nằm mơ thấy mình đứng trên vách núi, trước mắt là một cây trà kỳ lạ tỏa hương thơm ngát của hoa lan. Khi ông định hái lá, tiếng chó sủa vang lên khiến ông tỉnh giấc. Điều kỳ lạ là, ngay ngày hôm sau, ông quả nhiên tìm thấy một cây trà giống hệt như trong giấc mộng ở trên vách đá.
Sự Ra Đời Của “Vua Trong Các Loại Trà”
Ngụy Ẩm liền hái một ít lá non mang về nhà, chăm chút chế biến. Khi trà được hoàn thành, vị trà dịu ngọt, thơm ngon đến mức khiến tinh thần trở nên nhẹ nhàng, sảng khoái. Ông cho rằng đây chính là “vua trong các loại trà”, liền cẩn thận bứng cả cây trà mang về nhà trồng làm giống.
Vài năm sau, trà phát triển tươi tốt, cành lá xum xuê. Lá trà có hình dáng đẹp như tượng Quan Âm, lại nặng tựa sắt, hơn nữa lại được Bồ Tát Quan Âm báo mộng指引, nên ông đặt tên là Thiết Quan Âm.
Khi pha trà, ông phát hiện loại trà này đậm đặc hơn tất cả các loại trà khác, lá trà có màu xanh xám như thép. Vì hương vị trà đậm đặc đặc biệt và Ngụy Ẩm thường dùng nó để dâng lên Bồ Tát Quan Âm, nên không lâu sau đó, người ta đổi tên loại trà này thành Thiết Quan Âm – biểu tượng cho sự kết hợp giữa sức nặng của kim loại và vẻ đẹp của Phật pháp.
Đại Hồng Bào – Trà Thánh Cứu Chữa Hoàng Hậu
Từ Tú Tài Bệnh Tật Đến Trạng Nguyên Phò Mã
Truyền thuyết kể rằng, xưa kia có một vị tú tài nghèo lên kinh đô dự thi, khi đi qua Vũ Di Sơn thì bị ốm và ngã gục. May mắn thay, ông được lão phương trượng chùa Thiên Tâm phát hiện và đưa về chùa chăm sóc. Vị lão hòa thượng đã pha một chén trà đặc biệt cho tú tài uống, và kỳ diệu thay, bệnh tình của ông lập tức thuyên giảm.
Về sau, vị tú tài đó đã đỗ trạng nguyên và được phong làm phò mã. Một ngày xuân nọ, vị trạng nguyên trẻ quay trở lại Vũ Di Sơn để tạ ơn cứu mạng. Ông được lão phương trượng dẫn đến Cửu Long Khoa, nơi ông kinh ngạc khi nhìn thấy những cây trà cao lớn, cành lá tươi tốt, những mầm non mập mạp dưới ánh mặt trời rực rỡ, ánh lên sắc tím hồng tuyệt đẹp.
Lời Giải Thích Kỳ Diệu
Lão phương trượng kể lại: “Năm xưa chàng mắc bệnh cổ trướng, chính là những cây trà này đã chữa khỏi bệnh cho chàng.” Trạng nguyên nghe vậy liền xin lão phương trượng một hộp trà để dâng lên Hoàng thượng.
Trong chùa, mọi người thắp hương đốt nến, rung chuông đánh trống, tất cả các hòa thượng được triệu tập về Cửu Long Khoa. Đám đông đứng dưới gốc trà thắp hương bái Phật, đồng thanh kêu lớn “trà ra mầm”, sau đó hái lá và chế biến cẩn thận, gói ghém trong hộp thiếc.
Khi Hồng Bào Được Tắm Nắng
Khi vị trạng nguyên mang trà đến kinh thành, đúng lúc Hoàng hậu đang mắc bệnh cổ trướng, nằm bất động trên giường. Vị trạng nguyên liền pha trà từ gói trà vừa mang về cho Hoàng hậu uống. Quả nhiên, uống trà xong, bệnh tình của Hoàng hậu lập tức khỏi hẳn.
Hoàng thượng vô cùng vui mừng, liền ban tặng cho trạng nguyên một tấm đại hồng bào và sai trạng nguyên quay trở lại Vũ Di Sơn để phong thưởng. Trên đường đi, pháo đốt liên hồi, đuốc cháy sáng rực cả trời đêm.
Đến Cửu Long Khoa, trạng nguyên leo lên lưng chừng núi, đặt tấm hồng bào do Hoàng thượng ban lên cây trà để biểu thị ân điển. Kỳ lạ thay, khi tấm hồng bào được mở ra, những mầm lá trà trên cây bỗng ánh lên một màu hồng rực rỡ. Mọi người cho rằng đó là màu hồng hòa quyện từ tấm hồng bào. Từ đó, loại trà này được gọi là Đại Hồng Bào – “áo bào đỏ lớn” – và trở thành loại trà quý được dâng lên Hoàng thượng mỗi năm.
Hoàng Sơn Mao Phong – Trà Tiên Tạo Hình Đóa Sen
Cuộc Du Xuân Định Mệnh
Vào khoảng niên hiệu Thiên Khải (1621-1627) nhà Minh, vị quan tân nhiệm Phùng Khai Nguyên của một huyện vùng Giang Nam đã mang theo thư đồng đến núi Hoàng Sơn du xuân, nhưng không may bị lạc đường. Trong lúc nguy cấp, ông gặp một vị hòa thượng già lưng đeo gùi và theo chân vị hòa thượng đó vào chùa trú tạm.
Khi vị trưởng lão nhà chùa pha trà mời khách, vị quan tri huyện đã quan sát rất tỉ mỉ màu sắc của trà và cách thức rót trà khéo léo uyển chuyển. Điều kỳ diệu xảy ra khi nước trà được rót ra: chỉ nhìn thấy một luồng khí ấm quyện quanh bát trà, quyện đến trung tâm của bát thì tạo thành một luồng khí theo phương thẳng đứng bay lên nghi ngút cao chừng một thước, sau đó lại cuộn thêm một vòng tròn nữa trong không khí rồi từ từ hình thành một đóa sen trắng vô cùng đẹp mắt.
Hình Ảnh Sen Trắng Huyền Bí
Đóa sen đó sau khi hình thành tiếp tục lan tỏa trong không khí, làm cho cả căn phòng tràn ngập một mùi hương thanh khiết. Tri huyện kinh ngạc hỏi ra mới biết đây chính là trà Mao Phong của Hoàng Sơn.
Khi chia tay, vị trưởng lão còn tặng cho quan tri huyện một gói trà Mao Phong, một vò nước suối lấy từ núi Hoàng Sơn và dặn dò rằng nhất định phải dùng nước suối này để pha trà, như thế mới có thể hình thành được hình ảnh đóa sen trắng đặc biệt.
Thử Thách Trước Hoàng Thượng
Sau khi Phùng Khai Nguyên trở về nha huyện, bạn cũ là tri huyện Thái Bình đến thăm. Ông liền biểu diễn kỹ thuật pha trà Mao Phong của Hoàng Sơn mà mình vừa học được. Tri huyện Thái Bình vô cùng ngạc nhiên và thích thú, về sau liền vào kinh thành bẩm tấu lên hoàng thượng và muốn dâng lên ngài thứ trà tiên này.
Hoàng thượng lệnh cho tri huyện Thái Bình vào cung biểu diễn. Nhưng thật không may, hình ảnh sen trắng không hề xuất hiện. Hoàng thượng vô cùng tức giận. Tri huyện Thái Bình đành phải thú nhận sự thật rằng trà là do Phùng Khai Nguyên tặng.
Hoàng thượng lập tức triệu Phùng Khai Nguyên vào cung. Phùng Khai Nguyên thuật lại câu chuyện du xuân và lời dặn của vị trưởng lão. Sau khi trình bày rõ nguyên do, ông xin phép Hoàng thượng cho mình về Hoàng Sơn lấy nước suối.
Đến Hoàng Sơn, Phùng Khai Nguyên bái kiến vị trưởng lão, vị này liền lấy nước suối Hoàng Sơn đưa cho ông. Khi trở về kinh thành dùng nước vừa lấy về pha trà Mao Phong, quả nhiên hình ảnh đóa sen trắng từ từ xuất hiện.
Hoàng thượng nhìn chăm chú không chớp mắt, vô cùng ngạc nhiên và thích thú liền nói: “Khanh có công dâng trà quý, nay thăng chức cho khanh làm tuần phủ Giang Nam, ba ngày sau lên đường nhậm chức.”
Lựa Chọn Cả Đời
Phùng Khai Nguyên khảng khái nói: “Trà Hoàng Sơn vốn đã ngon như vậy chứ đâu phải do thần làm nên sự đặc sắc của nó.” Nói xong, ông hạ mũ ô sa xin từ quan, đến chùa Vân Cốc ở Hoàng Sơn xuất gia làm hòa thượng, pháp danh Chính Chí.
Ngày nay, bên đường vào chùa Vân Cốc vẫn còn di chỉ của Đại sư Mộ Thác. Tương truyền đó chính là phần mộ của hòa thượng Chính Chí – người đã từ bỏ công danh phú quý để tìm về chốn thiền môn thanh tịnh.
Tùng La – Trà Linh Từ Hai Vại Nước Thần
Bí Ẩn Hai Vại Nước Trước Cửa Chùa
Tại Tu Ninh, tỉnh An Huy có một ngọn núi, trên núi mọc um tùm một loại cây tùng la, vì vậy ngọn núi này được gọi là núi Tùng La. Những cây trà mọc trên ngọn núi này được gọi là trà Tùng La.
Loại trà này có phiến lá dày, các gân lá mảnh, độ mềm cao, lá mọc xen kẽ rất dày, màu sắc lá sáng. Sau khi pha, mùi hương lan tỏa khắp nơi làm cho lòng người nao nức. Cổ nhân từng bình luận: “Tùng La hương khí tái Long Đỉnh“. Kỳ lạ hơn nữa là loại trà này còn được dùng làm vị thuốc rất hiệu nghiệm.
Vào khoảng niên hiệu Hồng Vũ, chùa Nhượng Phúc trên núi Tùng La cực kỳ thịnh vượng, trong chùa có đến hơn 40 tăng ni. Chùa Nhượng Phúc khác biệt so với các chùa khác ở chỗ trước cửa chùa không phải là hai pho tượng sư tử mà là hai vại nước.
Hai vại nước đó không ai biết đã được đặt ở đó từ bao giờ, nhưng thời gian hẳn đã rất lâu nên lục bình đã mọc lên rất nhiều, nước trong vại cũng chuyển sang màu xanh biếc. Những vị quan chức, ông chủ hay thương nhân vùng Tô Châu thường xuyên vào núi dâng hương, nhìn thấy lục bình trong hai vại nước đều không ngớt lời khen ngợi.
Giao Dịch 300 Lượng Vàng
Một năm nọ, một hương khách từ xa đến đứng trước cửa chùa, quan sát hai vại nước đó rất tỉ mỉ, mất đến hơn hai tiếng đồng hồ. Sau đó, ông đi thẳng vào lễ đường, cung kính khom lưng trước hòa thượng trưởng lão và nói:
“Phương trượng, kẻ hèn này nhìn thấy quý chùa có đôi bảo bối nên muốn mua lại với số tiền lớn, chẳng hay ý phương trượng thế nào?”
Lão hòa thượng nghe vậy lấy làm khó hiểu: trong chùa làm gì có bảo bối đáng nhiều tiền như vậy? Ông liền hỏi vị khách lạ: “Thí chủ nói vậy không biết là chỉ vật gì?”
Vị khách nói: “Chính là hai vại nước trước cửa nhà chùa.”
“À!”, lão hòa thượng như vừa tỉnh cơn mộng, nói liền một mạch: “Đúng vậy, đúng vậy, thời gian đã lâu quá rồi, hai vại nước đó đã nhận được không biết bao nhiêu linh khí của trời đất và không biết bao nhiêu tinh hoa của năm tháng, chẳng trách là đáng quý. A-di-đà Phật, chẳng trách là đáng quý!”
Sau đó, hai người thỏa thuận giá hai chiếc vại đó là 300 lạng vàng. Vị khách vừa đi, lão hòa thượng sợ rằng hai vại nước sẽ bị ăn trộm, liền gọi tất cả tăng ni trong chùa đến và bảo họ mỗi người góp một tay, đổ hết nước trong vại và đánh rửa vại thật sạch sẽ, cất vào bên trong chùa.
Khi Bảo Khí Bị Đánh Mất
Ba ngày sau vị khách quay lại. Vừa nhìn thấy hai vại nước đã được đánh rửa sạch sẽ và trống không, ông không kìm được lòng, lắc đầu kêu lên: “Đáng tiếc, đáng tiếc! Bảo khí đã mất, chẳng còn tác dụng gì nữa rồi!”
Lão hòa thượng thật không nghĩ rằng mình đã làm một việc không cần thiết, thậm chí còn ngu ngốc. Ông vô cùng hối hận nhưng chẳng thể làm gì được nữa.
Trong lúc đang hối hận tột cùng, người khách lạ quay lại và nói: “Lão phương trượng, ông không nên quá lo lắng và đau khổ như vậy. Thực ra bảo khí vẫn còn ở trước cửa chùa, chính là nơi mà các vị đã đổ nước từ trong hai cái vại đó ra. Nếu như trồng cây trà trên đó thì sẽ sinh ra một loại trà vô cùng đặc biệt, chỉ cần ‘uống ba cốc mà còn say hơn nghìn chén trà loại khác’.”
Trà Thần Dược
Lão hòa thượng liền cho tăng ni trong chùa đem trà trồng lên vùng đất đó. Quả nhiên, nơi đó mọc lên một vườn trà xanh mướt một màu, không giống với bất kỳ loại trà nào. Lão hòa thượng liền coi đó là thứ trà quý của chùa Nhượng Phúc và đặt tên là trà Tùng La, được truyền lại mãi cho đến đời sau.
Hai trăm năm sau, thời vua Minh Thần Tông, khắp vùng Tu Ninh bị dịch bệnh thương hàn hoành hành. Nhân dân trong vùng đua nhau đến chùa Nhượng Phúc thắp hương bái Phật, cầu mong Bồ Tát phù hộ che chở. Tất cả những người đến chùa cầu Phật tổ ban phước lành đều được phương trượng của chùa tặng một gói trà Tùng La, bên ngoài còn ghi rõ cách dùng:

Có thể bạn quan tâm: Hướng Dẫn Chi Tiết Về Việc Truy Tìm Tượng Phật: Những Điều Cần Biết Và Lưu Ý
- Người bệnh nhẹ: hãm trà với nước sôi uống đều đặn, sau hai đến ba ngày bệnh sẽ khỏi
- Người bệnh nặng: dùng trà này sao với gừng, muối, gạo nếp, sau đó nghiền nát rồi hãm uống, sau hai đến ba ngày bệnh sẽ khỏi
Quả nhiên, sau khi dùng, mọi người thấy có hiệu quả rõ rệt, bệnh thương hàn được chữa khỏi. Như vậy, trà Tùng La trở thành phương thuốc kỳ diệu và bỗng chốc trở nên nổi tiếng khắp mọi nơi.
Huệ Minh – Trà Vàng Từ Lòng Nhân Ái
Hành Trình Lưu Lạc Của Gia Đình Lôi Thị
Trà Huệ Minh, có tên cũ là “bạch trà”, được trồng xung quanh chùa Huệ Minh, núi Xích Mộc, huyện Cảnh Ninh, tỉnh Triết Giang. Các vườn trà hầu như đều nằm trên những dốc núi cao khoảng 600 mét so với mực nước biển. Đất đai ở đây màu mỡ, lượng mưa dồi dào, sương và mây hòa quyện đêm ngày một màu trắng xóa, rất phù hợp với sự sinh trưởng của cây trà.
Tương truyền vào thời Đường, niên hiệu Đại Trung, có một người tên là Lôi Thái Tổ đem theo bốn người con trai từ Quảng Đông đến Giang Tây, rồi lại từ Giang Tây lưu lạc đến Chiết Giang. Trên đường đến Chiết Giang, họ gặp một vị hòa thượng. Bèo nước gặp nhau, họ nhanh chóng trở thành những người bạn đồng hành thân thiết. Cũng như cha con Lôi Thị, vị hòa thượng nọ cũng đến Chiết Giang.
Sau khi chia tay, Lôi Thái Tổ dựng tạm một mái nhà tranh trên một ngọn núi để trồng cây trà giá lạnh của huyện Cảnh Ninh. Năm cha con họ khai khẩn, trồng trọt sinh sống qua ngày. Nhưng sau đó, những người có tiền và địa vị trong huyện phát hiện ra, liền cậy thế mạnh nói rằng cha con Lôi Thái Tổ đã chiếm đất của họ và đuổi cha con họ đi.
Cha con Lôi Thái Tổ không còn con đường nào khác, đành phải trở về với cuộc sống lưu lạc không tấc đất cắm dùi.
Gặp Lại Và Cơ Duyên Mới
Tình cờ, cha con họ gặp lại vị hòa thượng trước kia tại huyện Cảnh Ninh. Vị hòa thượng rất thông cảm với cảnh ngộ của cha con Lôi Thái Tổ nên đưa họ về chùa. Hóa ra vị hòa thượng đó chính là vị khai sơn chùa Huệ Minh trên núi Xích Mộc.
Vị hòa thượng bảo cha con Lôi Thái Tổ trồng trà ở những vùng đất xung quanh chùa Huệ Minh. Những vườn trà trồng ở đó lớn rất nhanh. Đây chính là xuất xứ của trà Huệ Minh trong truyền thuyết.
Hương Vị Không Tưởng Tượng Nổi
Trà Huệ Minh đã tuyệt vời, nước Nam Tuyền bên cạnh chùa Huệ Minh còn tuyệt vời hơn. Trà Huệ Minh mà pha với nước Nam Tuyền thì:
- Chén thứ nhất: vị nhạt
- Chén thứ hai: bắt đầu cảm nhận được vị mới mẻ của trà
- Chén thứ ba: thơm ngon
- Chén thứ tư: không còn từ nào có thể diễn đạt được hết những nét đặc biệt mà không một loại trà nào có được
Hương vị đậm đặc, giữ được lâu, uống xong mà vẫn còn lưu lại vị ngọt đằm thắm, thật xứng đáng với sự nổi tiếng của nó trong xã hội.
Vân Sương – Món Quà Bất Ngờ Từ Hầu Vương
Hành Trình Tìm Trà Tiên Của Tôn Ngộ Không
Tôn Ngộ Không khi còn là Hầu Vương tại Hoa Quả Sơn thường ăn đào tiên, dưa và uống rượu. Một hôm, Hầu Vương bỗng nhiên thích uống thứ trà tiên mà Ngọc Hoàng Đại Đế và Vương Mẫu Nương Nương đã từng uống. Vì vậy, Hầu Vương một mình lên tận Thiên Cung.
Khi trở về hạ giới, Hầu Vương vén mây nhìn xuống trần gian, thấy Cửu Châu, Nam Quốc xanh mướt một màu. Ông quan sát kỹ thì hóa ra đó là một vùng toàn những cây trà.
Đàn Chim Trà Giúp Việc
Thời gian đó đúng vào giữa mùa thu, cây trà đã kết hạt nhưng Tôn Ngộ Không lại không biết làm thế nào để hái hạt đó đem về trồng. Lúc đó, một đàn chim trên trời bay tới, nhìn thấy Tôn Ngộ Không liền hỏi Hầu Vương đang làm gì.
Tôn Ngộ Không nói: “Hoa Quả Sơn của ta mặc dù đã tuyệt vời nhưng vẫn thiếu cây trà, ta muốn hái một ít hạt trà đem về Hoa Quả Sơn trồng nhưng chưa biết làm thế nào.“
Đàn chim nghe xong nói: “Chúng tôi sẽ hái giúp Hầu Vương.“
Nói xong, chúng sải cánh bay đi, đến vườn trà của nước Nam, chúng sà xuống tỉa hạt trà rồi bay thẳng về Hoa Quả Sơn.
Bài Ca Trên Núi Lư
Đàn chim miệng ngậm hạt trà bay xuyên qua các tầng mây, vượt qua những ngọn núi cao, các con sông lớn, hướng về phía trước bay một mạch không dừng cánh. Không ngờ khi bay qua núi Lư, cảnh đẹp nguy nga của núi đã hấp dẫn chúng.
Con chim đầu đàn không kìm nổi trước cảnh núi non hùng vĩ liền cất tiếng hót líu lo. Con chim đầu đàn vừa cất tiếng hót, những con chim khác cũng đồng loạt hót theo. Những hạt trà trong miệng chúng vì vậy mà bị rơi xuống, rơi đúng vào những thung lũng nham thạch trên những đỉnh cao nhất của núi Lư.
Từ đó, núi Lư quanh năm một màu mây sương trắng xóa tự nhiên mọc lên một loại cây trà, sản sinh ra thứ trà Vân Sương làm say lòng người.
Hiệp Châu – Món Quà Từ Bồ Tát Quán Thế Âm
Trà Được Trồng Bởi Vị Phật Tử Từ Bi
Trà Hiệp Châu là một trong mười loại trà nổi tiếng của Trung Quốc, được trồng ở khu vực Tây Lăng Hiệp, Trường Giang. Nghi Xương nằm ở khu vực này, nơi có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp với từng dãy núi nối tiếp nhau, cây cối um tùm, mây và sương mù bao phủ trắng xóa, non xanh nước biếc.
Hai bên bờ Tây Lăng Hiệp trước đây được gọi là Nghi Lăng, còn tên khác nữa là Hiệp Châu. Vùng này có những vườn trà trồng tầng tầng lớp lớp, trà mọc lên cao, vươn thẳng lên trời với màu xanh bát ngát.
Hành Trình Thỉnh Kinh Tây Thiên
Tương truyền rằng, Nam Hải Quán Thế Âm Bồ Tát đã gọi thầy trò Đường Tăng từ Thiên Nam Hải Bắc và phái họ đến chỗ Phật Tổ Như Lai ở Tây Thiên thỉnh chân kinh. Bốn thầy trò Đường Tăng trải qua tám mươi mốt kiếp nạn, cuối cùng cũng lấy được Tam tạng kinh điển đem về.
Khi họ trở về đến bờ nam của Tây Lăng Hiệp, Quán Thế Âm Bồ Tát cùng với đồ đệ Huệ An Hành Giả cưỡi mây hồng bay từ núi Phổ La Lạc Ca, Nam Hải đến Tây Lăng Hiệp đón bốn thầy trò Đường Tăng. Sáu người họ cùng đi đến một ngôi miếu cổ duy nhất trong vùng đó là miếu Hoàng Lăng để chỉnh sửa kinh.
Lòng Từ Bi Của Bồ Tát
Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn nhìn thấy những người đến miếu thờ cúng thần ai nấy đều rách rưới, mặt mũi xanh xao bệnh tật, đã động lòng thương. Ngài nghĩ, trong hậu viện của Vương Mẫu Nương Nương có một loại cây quý, lá cây bốn mùa xanh tốt, hằng năm Vương Mẫu Nương Nương đều cho người hái để làm nước uống đãi các vị tiên, nếu như đem hạt của cây đó xuống vùng này trồng sẽ giúp được dân chúng nơi đây thoát được khó khăn.
Thế là, ngài bảo Huệ An Hành Giả và bốn thầy trò Đường Tăng tiếp tục sửa kinh, còn mình cưỡi mây bay về Thiên đình, hái những hạt cây trong hậu viện của Vương Mẫu Nương Nương. Quay lại hạ giới, ngài tận tay gieo những hạt cây đó xuống những vùng đất tốt nhất trong vùng.
Sau đó, khắp vùng Tây Lăng Hiệp trà mọc lên ngút ngàn và rợp khắp. Trong cuốn Trà kinh của Lục Vũ, trà Hiệp Châu được liệt vào danh sách đứng đầu trong tất cả các loại trà ngon trong nước. Từ đó, trà Hiệp Châu được lưu truyền từ đời này qua đời khác.
Tiên Nhân Chưởng – Bàn Tay Cứu Độ
Thảm Cảnh Chùa Ngọc Tuyền
Chùa Ngọc Tuyền ở vùng phụ cận giáp với Tây Lăng Hiệp, Trường Giang là một ngôi chùa cổ, được bắt đầu khởi công xây dựng từ thời Tam Quốc. Trong chùa có trồng một loại trà tên là “Tiên Nhân Chưởng“.
Truyền thuyết kể rằng trong một trận chiến loạn, chùa Ngọc Tuyền bị cướp bóc sạch và bị đốt cháy rụi, hơn hai trăm vị hòa thượng của nhà chùa đã chết và bị thương mất một nửa.
Vị Tiên Từ Nam Hải
Đúng lúc đó, có một vị tiên được Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi phái đi thị sát tình hình nước non Tam Hiệp, đi qua vùng này nhìn thấy tình cảnh như vậy thì rất thương tâm. Lúc đó, vị tiên liền đưa bàn tay phải của mình ra, miệng ngậm nước tiên từ từ phun ra trước mặt, tiếp đó giơ bàn tay lên trời.
Ngay lập tức, từ dưới mặt đất mọc lên những cây trà xanh biếc. Cùng với sự sinh trưởng của trà, những vị hòa thượng bị chết trong trận hỏa hoạn cũng từ từ sống lại.
Phép Màu Của Trà Tiên
Những vị hòa thượng trong chùa lập tức hiểu ra, việc sống lại từ cõi chết này có liên quan đến trà, vì vậy liền lập tức hái trà nấu cho những vị hòa thượng bị thương khác uống. Không lâu sau, những vị hòa thượng đã uống “trà tiên” ai nấy đều khỏe mạnh lại bình thường.
Sau khi sự việc diễn ra, mọi người đều quỳ trước vị tiên do Nam Hải Quán Thế Âm Bồ Tát đã phái đến vùng Tây Lăng Hiệp để tạ ơn. Từ đó, chùa Ngọc Tuyền có một vườn trà. Những cây trà ở đó là do một vị tiên giơ bàn tay phải của mình ra để tạo thành, chính vì vậy mà chúng sinh ra những lá trà có hình dạng rất giống bàn tay. Để ghi nhớ công ơn vị tiên đó, các hòa thượng trong chùa gọi loại trà này là trà “tiên nhân chưởng” (bàn tay tiên).
Ý Nghĩa Văn Hóa Của Trà Và Phật Giáo
Sự Giao Thoa Hoàn Hảo
Những truyền thuyết về Phật giáo và trà không chỉ là những câu chuyện thần kỳ mà chúng còn phản ánh một thực tế lịch sử: sự giao thoa hoàn hảo giữa tâm linh và ẩm thực. Các ngôi chùa không chỉ là nơi tu hành mà còn là những trung tâm nghiên cứu và phát triển nghệ thuật trà.
Bài Học Từ Những Câu Chuyện
Qua những truyền thuyết này, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học sâu sắc:
- Lòng thành kính và kiên trì: Như trường hợp của Ngụy Ẩm, sự thành tâm đã mang lại cho ông món quà quý giá là trà Thiết Quan Âm.
- Lòng biết ơn: Vị trạng nguyên đã không quên công ơn cứu mạng của vị hòa thượng, dẫn đến việc trà Đại Hồng Bào được biết đến rộng rãi.
- Sự từ bi và cứu khổ cứu nạn: Hình ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát luôn hiện diện trong các truyền thuyết, thể hiện tinh thần cứu độ chúng sinh.
- Sự từ bỏ công danh để tìm về bản ngã: Câu chuyện của Phùng Khai Nguyên là minh chứng cho việc có những giá trị cao cả hơn danh lợi trần thế.
Giá Trị Dưỡng Sinh Của Trà
Không chỉ có giá trị tinh thần, những loại trà được kể trong truyền thuyết đều có giá trị dưỡng sinh rất cao:
- Trà Thiết Quan Âm: Giúp thanh lọc cơ thể, hỗ trợ tiêu hóa
- Trà Đại Hồng Bào: Có tác dụng an thần, giúp ngủ ngon
- Trà Hoàng Sơn Mao Phong: Giàu chất chống oxy hóa, tốt cho tim mạch
- Trà Tùng La: Được dùng làm vị thuốc trị bệnh cao huyết áp, làm giảm mệt mỏi
- Trà Huệ Minh: Giúp thanh nhiệt, giải độc
- Trà Vân Sương: Có tác dụng làm mát gan, thanh nhiệt
- Trà Hiệp Châu: Hỗ trợ tiêu hóa và giảm mỡ máu
- Trà Tiên Nhân Chưởng: Theo truyền thuyết có khả năng hồi sinh, thể hiện sức sống mãnh liệt
Bảo Tồn Và Phát Triển
Những truyền thuyết này không chỉ là di sản văn hóa tinh thần quý giá mà còn là cơ sở để bảo tồn và phát triển nghệ thuật trà đạo. Chúng提醒 chúng ta về sự kết nối thiêng liêng giữa con người, thiên nhiên và tâm linh.
chuaphatanlongthanh.com hy vọng rằng qua bài viết này, quý vị độc giả không chỉ được thưởng thức những câu chuyện kỳ diệu mà còn cảm nhận được chiều sâu văn hóa trong từng tách trà, từ đó thêm trân trọng những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc.
Cập Nhật Lúc Tháng 12 13, 2025 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân
