Tổng hội Phật giáo Việt Nam là một cột mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử của Phật giáo tại Việt Nam, đánh dấu sự thống nhất các tổ chức Phật giáo ở ba miền Bắc – Trung – Nam trong bối cảnh đất nước đang trải qua những biến chuyển sâu sắc về chính trị, văn hóa và xã hội. Sự ra đời của Tổng hội không chỉ đáp ứng nguyện vọng lâu dài của hàng triệu tín đồ Phật tử yêu nước mà còn góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng một xã hội hòa bình, công bằng. Bài viết này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về bối cảnh lịch sử, quá trình vận động và ý nghĩa to lớn của phong trào thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam năm 1951.
Có thể bạn quan tâm: Tế Công Hoạt Phật Từ Bi: Huyền Thoại Và Giá Trị Đời Người
Bối cảnh lịch sử ra đời Tổng hội Phật giáo Việt Nam
Tình hình chính trị trong nước
Nửa đầu thế kỷ XX là thời kỳ đầy biến động của Việt Nam khi đất nước phải đối mặt với ách thống trị thực dân Pháp. Phong trào giải phóng dân tộc trải qua nhiều thất bại, từ khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học cho đến các phong trào theo khuynh hướng dân chủ tư sản như Đông Kinh Nghĩa Thục của Phan Châu Trinh. Những thất bại này đã làm cho phong trào cách mạng rơi vào khủng hoảng sâu sắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo.
Trong bối cảnh đó, một số nhà sư, trí thức yêu nước nhận ra rằng cần phải có một lực lượng mới đủ mạnh để đoàn kết toàn dân tộc đấu tranh giành độc lập. Họ nhìn thấy trong Phật giáo một tiềm năng to lớn để tập hợp lực lượng, bởi lẽ đạo Phật vốn có truyền thống “Hộ quốc an dân” và đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của người Việt suốt hàng ngàn năm. Việc phục hưng Phật giáo không chỉ nhằm khôi phục uy tín của đạo mà còn là một cách để lấy ngọn cờ Phật giáo nhằm đoàn kết, tập hợp lực lượng yêu nước chống lại thực dân Pháp.
Sự kiện trọng đại thay đổi hoàn toàn cục diện cách mạng Việt Nam là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2-1930. Đảng đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, đề ra chủ trương đúng đắn, lãnh đạo nhân dân đi đến thắng lợi. Đặc biệt, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á được thành lập, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước.
Sự phục hưng và phát triển của Phật giáo ở ba miền
Phật giáo ở Nam bộ
Tại Nam bộ, phong trào chấn hưng Phật giáo bắt đầu rất sớm với sự ra đời của các tổ chức Phật giáo quan trọng. Năm 1930, Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật Học được thành lập tại TP. Hồ Chí Minh, mở đường cho các hoạt động Phật sự tại khu vực này. Năm 1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật học ra đời tại Trà Vinh, tiếp nối là Hội Phật học Kiêm Tế tại Rạch Giá năm 1937. Các tổ chức này không chỉ tổ chức các khóa giảng Phật pháp mà còn xuất bản các ấn phẩm để phổ biến giáo lý.
Đến những năm 1950, các tổ chức Phật giáo lớn hơn tiếp tục được thành lập. Tháng 9-1950, cư sĩ Mai Thọ Truyền thành lập Hội Phật học Nam Việt tại Sài Gòn, trụ sở đặt tại chùa Khánh Hưng. Một năm sau, tháng 6-1951, Giáo hội Tăng già Nam Việt được thành lập tại chùa Hưng Long, Chợ Lớn, do Hòa thượng Đạt Thanh chủ trì và Hòa thượng Nhựt Liên làm Tổng Thư ký. Giáo hội này đặt trụ sở tại chùa Ấn Quang, trở thành một trong những tổ chức Phật giáo lớn nhất khu vực Nam bộ.
Phật giáo ở Trung bộ
Tại Trung bộ, Hội An Nam Phật học ra đời năm 1932 do Hòa thượng Giác Tiên sáng lập, đặt trụ sở tại chùa Trúc Lâm (Huế). Hội này có báo Viên âm làm cơ quan ngôn luận, đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền giáo lý và các hoạt động Phật sự. Năm 1948, Hội Việt Nam Phật học Trung Việt được thành lập, Hòa thượng Trí Thủ đảm nhận vai trò vụ ủy viên hoằng pháp. Đến năm 1952, Hòa thượng Trí Thủ đã cho xây dựng nhiều trường tiểu học và trung học ở các tỉnh miền Trung để giảng dạy Phật học.
Năm 1949, Giáo hội Tăng già Trung Việt được thành lập dưới sự đóng góp tích cực của các Hòa thượng Mật Hiển và Mật Nguyện. Các tổ chức này không chỉ hoạt động về mặt giáo lý mà còn tham gia vào các hoạt động xã hội, giáo dục, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho người dân.
Phật giáo ở Bắc bộ

Có thể bạn quan tâm: Phật Hoàng Trần Nhân Tông – Tổ Sư Phật Giáo Việt Nam
Tại Bắc bộ, tháng 11-1934, Hội Việt Nam Phật giáo Bắc Việt được thành lập theo quyết định số 4283 của Thống sứ Bắc kỳ, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Đây là một tổ chức lớn với ban lãnh đạo gồm nhiều nhân vật tiêu biểu của xã hội thời bấy giờ, trong đó có Hội trưởng danh dự là Robin – Toàn quyền Đông Pháp, Thống sứ A. Tholance, Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu, Hội trưởng là cư sĩ Nguyễn Năng Quốc, cùng nhiều nhân sĩ trí thức khác.
Mục đích chính mà Hội nêu ra là: “Cốt khuyên rủ nhau, đốc trách nhau hiểu đạo Phật cho rành, làm đạo Phật cho đúng để tự độ mà độ người”. Hội có nhiều loại hội viên: hội viên danh dự, tán trợ, vĩnh viễn, chủ trì, thiện tín. Hội đã cho ra đời báo Tiếng Chuông Sớm vào ngày 15-6-1935, đây là tờ báo đầu tiên của Phật giáo ở Bắc bộ. Báo Tiếng Chuông Sớm đã góp phần quan trọng trong việc phổ biến giáo lý, khích lệ tinh thần chấn hưng Phật giáo.
Năm 1949, tại Hà Nội, Hòa thượng Tố Liên đã thành lập Hội Tăng Ni chỉnh lý Bắc Việt, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ. Đến tháng 9-1950, hội được đổi tên thành Hội Phật giáo Tăng già Bắc Việt. Năm 1951, hội bầu Hòa thượng Thích Mật Ứng làm Thiền gia Pháp chủ. Các tổ chức này đã tạo nên một phong trào chấn hưng Phật giáo mạnh mẽ ở khu vực Bắc bộ.
Ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo trên thế giới
Phong trào ở Trung Quốc
Tại Trung Quốc, sau Cách mạng Tân Hợi năm 1911 do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, Phật giáo Trung Quốc có bước phát triển mạnh mẽ. Năm 1913, Đại sư Thái Hư đã thành lập Hội Phật giáo Trung Quốc và cho xuất bản Tuần san Hải Triều Âm. Đại sư Thái Hư là một trong những nhân vật tiên phong trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc với ba khẩu hiệu nổi tiếng: “Cách mạng trong giáo lý, cách mạng giáo chế và cách mạng trong Tăng đoàn”.
Năm 1914, các cơ sở hoằng pháp bắt đầu được thành lập tại nhiều nơi ở Trung Quốc, nhiều Phật học viện được xây dựng, các tạp chí Phật học được xuất bản. Năm 1928, tại Nam Kinh, Đại sư Thái Hư đã thống nhất các hội Phật giáo ở Trung Quốc thành Hội Phật học Trung Hoa với mục đích: “Tuyên truyền giáo nghĩa nhà Phật. Biện lý sự giáo dục của tăng chúng. Đề xướng việc Tăng Ni làm lụng để sản xuất ra các đồ chế tạo và tài sản, song không trái với giáo chỉ nhà Phật.”
Năm 1934, Đại sư Thái Hư có chuyến thăm chư Tăng tại Hà Nội, Việt Nam. Trong chuyến thăm này, Ngài đã viết bộ đôi câu đối nổi tiếng: “Pháp luân tự địa đông tây chuyển – Phật đạo phùng nguyên tả hữu thông” tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Câu đối này hiện nay vẫn còn được treo tại chính điện chùa Quán Sứ, trở thành biểu tượng cho mối quan hệ gắn bó giữa Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Trung Quốc.
Phong trào ở Liên Xô
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Phật giáo ở Liên Xô cũng được phục hồi. Năm 1927, Hội nghị Phật giáo Liên Xô được tổ chức tại Mát-xcơ-va do Thượng tọa Dorgzhiev và nhà nghiên cứu Phật học Roerich chủ trì. Hội nghị này có tính chất quốc tế rộng lớn do sự tham dự của đông đảo Phật tử đến từ các nước Trung Á và Đông Á. Hội nghị đã đóng góp đáng kể vào việc phổ biến tư tưởng về sự tương hợp của Phật giáo và chủ nghĩa cộng sản, về những định hướng quốc tế của Phật giáo.
Năm 1929, Hội Truyền giáo Mông – Tạng được thành lập, tiếp tục thúc đẩy các hoạt động Phật sự và giao lưu văn hóa giữa các nước.
Quá trình vận động thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam
Những mâu thuẫn nội bộ và nhu cầu thống nhất
Mặc dù các tổ chức Phật giáo lần lượt ra đời ở cả ba miền, nhưng sự phát triển này lại thiếu đi sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau về mặt tư tưởng cũng như hoạt động. Trong nội bộ các tổ chức cũng xuất hiện những mâu thuẫn về đường lối lãnh đạo, cách thức hoạt động. Thậm chí giữa các tổ chức còn có sự hiềm khích, tranh luận, đả kích lẫn nhau. Điều này làm giảm hiệu quả hoạt động và uy tín của Phật giáo trong lòng quần chúng.
Mặt khác, các trường giảng dạy Phật học được tổ chức ở khắp ba miền nhưng lại thiếu sự thống nhất về cung cách, nội dung giảng dạy, chưa có sự liên kết chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau. Chính vì vậy, sau khi phong trào được hình thành, mặc dù có rất nhiều vị cao Tăng, Hòa thượng yêu nước mong muốn hợp nhất các tổ chức Phật giáo thành một khối thống nhất.
Những tiếng nói kêu gọi thống nhất
Kể từ năm 1950, các tờ báo ở cả ba miền Bắc – Trung – Nam đều đăng tải nhiều bài viết nói lên nguyện vọng thống nhất của các tín đồ Phật giáo.
Tại Bắc bộ, Hòa thượng Tố Liên trong một bài viết giải thích về lý do thành lập Giáo hội Tăng già Bắc Việt đã nói lên ý muốn thống nhất: “Ta phải tuân theo mục đích của Hội Phật giáo Quốc tế là thống nhất lực lượng Phật giáo, theo đà tiến triển thì phải thống nhất lực lượng từng xứ sở rồi đi đến thống nhất Phật giáo toàn quốc để gia nhập cơ quan thống nhất Phật giáo quốc tế.”
Tại Trung bộ, Hòa thượng Trí Quang trong bài viết “Hãy bước tới Phật giáo toàn quốc” đã nói lên ý nguyện thống nhất Phật giáo đồ Trung bộ là: “Phải bước tới Phật giáo toàn quốc, thống nhất Phật giáo, đấy là nguyện vọng từ lâu, nguyện vọng duy nhất của toàn thể Phật tử xuất gia cũng như Phật tử tại gia.”
Tại Nam bộ, cư sĩ Nguyễn Văn Khỏe đã gửi thư tới Phật tử trong cả nước bày tỏ nguyện vọng thống nhất Phật giáo. Bức thư có đoạn viết: “Đề xướng việc lập hội Phật học chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc – Trung – Nam sẽ bắt tay nhau thành một khối phát triển quảng đại và thống nhất trên nguyên tắc cũng như trong hành động.”
Ảnh hưởng của Hội nghị Phật giáo thế giới
Một yếu tố quan trọng thúc đẩy phong trào thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam là Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ nhất được tổ chức tại Colombo (thủ đô Sri Lanka), từ ngày 25-5-1950 đến 8-6-1950. Hội nghị này đã thành lập “Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới” (World Fellowship of Buddhists) – một tổ chức Phật giáo quốc tế do học giả và nhà ngoại giao người Sri Lanka nổi tiếng Gunapala Piyasena Malalasekera khởi xướng.
Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới được thành lập bởi các đại diện từ 27 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ban lãnh đạo “Hội Phật giáo Tăng già Bắc Việt” đã đề cử Hòa thượng Tố Liên, Ni trưởng Thích Đàm Thảo cùng phái đoàn đi dự hội nghị thành lập Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới tại Sri Lanka. Trụ sở chính của tổ chức đặt tại Thái Lan và có khoảng 140 trung tâm Phật giáo địa phương được đặt trên khắp thế giới tại 35 quốc gia, bao gồm các quốc gia Phật giáo truyền thống của châu Á cũng như các quốc gia phương Tây như Hoa Kỳ, Australia và một số quốc gia của châu Âu và châu Phi.
Hiến chương của Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới có đoạn: “Mỗi trung tâm điểm địa phương được lập nhiều chi nhánh hay thâu lập nhiều tổ chức trong phạm vi địa hạt của mình, và nhận làm hội viên từng cá nhân một hay toàn một tổ chức… Bất luận Tăng già hay cư sĩ tại gia đều được xin gia nhập làm hội viên của trung tâm điểm địa phương… Tổng hội có thể lập những trung tâm điểm địa phương ở các nước khác hay là công nhận một tổ chức hiện hữu nào đó là trung tâm điểm địa phương của một nước nào đó, nếu xét là hợp nghi, nhưng mỗi nước không được có hai trung tâm điểm địa phương.”
Sau khi trở về Việt Nam, Hòa thượng Tố Liên với tư cách là Trưởng đoàn Phật giáo Việt Nam, thành viên sáng lập Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới, đã tích cực lên kế hoạch xây dựng tổ chức nhiều hoạt động để từng bước tạo sự liên kết giữa các hội đoàn trong cả nước, tiến tới hợp nhất thành một tổ chức Phật giáo.
Các bước chuẩn bị cho việc thống nhất
Ngày 9-12-1950 (tức ngày 2 tháng 11 năm Canh Dần), nhân ngày giỗ Điều ngự Giác hoàng – Đệ nhất Tổ Trúc Lâm, các Hòa thượng đã mời các Tăng Ni và các nhà trí thức tới chùa Quán Sứ, Hà Nội để làm lễ và thảo luận về việc thành lập Trung tâm điểm Phật giáo thế giới tại Việt Nam theo như tinh thần của Hiến chương của Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới năm 1950 tại Sri Lanka.
Sau khi bàn thảo kỹ lưỡng, để công việc thống nhất Phật giáo toàn quốc được diễn ra thuận lợi, hội nghị quyết định thành lập Tiểu ban Nghiên cứu về Điều lệ. Trưởng tiểu ban là Hòa thượng Phạm Đức Nhuận, hội viên gồm: Hòa thượng Phạm Gia Thụy, Phan Huy Quát, Tam Lang, Mai Ngọc Thiệu, Vũ Như Trác, Lê Văn Thu và Viên Quang.
Sau đó, Hòa thượng Tố Liên đã cho xây dựng văn phòng Trung tâm Địa phương Việt Nam đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ. Nhân mùa Phật đản năm 1951, Ngài đã cho treo lá cờ ngũ sắc làm lá cờ Phật giáo lần đầu tiên tại chùa Quán Sứ.

Có thể bạn quan tâm: Hướng Dẫn Tọa Thiền Niệm Phật Toàn Tập: Bí Quyết An Tâm & Tĩnh Tâm
Trong hội nghị của Hội Tăng già Bắc Việt, trên cương vị là hội trưởng, Hòa thượng Tố Liên đã có bài phát biểu nhấn mạnh: “Vì phải theo với mục đích Hội Phật giáo quốc tế là thống nhất lực lượng Phật giáo theo đà tiến triển thì phải thống nhất lực lượng từng xứ sở sẽ lại đi đến thống nhất toàn quốc để gia nhập cơ quan thống nhất Phật giáo quốc tế.”
Ngày 20-11-1950, ông Nguyễn Văn Khỏe đại diện hội Phật học Nam Việt ở Nam kỳ (năm 1951 đổi tên thành Giáo hội Tăng già Nam Việt), đã gửi thư cho Hòa thượng Tố Liên để đồng ý với chủ trương thống nhất các tổ chức Phật giáo ở ba miền thành một khối thống nhất. Sau đó, Hội Việt Nam Phật học Trung Việt cũng đã gửi thư tới Hòa thượng Tố Liên để bàn bạc cho công cuộc hợp nhất các tổ chức Phật giáo.
Bên cạnh đó, Thủ hiến Bắc Việt – đại diện chính quyền thực dân Pháp ở Hà Nội tạm chiến đã gửi thư đến Hòa thượng Tố Liên, trong đó có nội dung: “Trân trọng đa tạ Thượng tọa và xin Thượng tọa biết cho rằng các cơ quan chính phủ vẫn sẵn lòng ủng hộ trong mọi trường hợp và về mọi phương diện các hội tôn giáo theo đuổi mục đích hướng dẫn dân chúng theo chính đạo.”
Đại hội thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam

Có thể bạn quan tâm: Tịnh Xá Ngọc Hương: Ngôi Chùa Phật Giáo Khất Sĩ Gắn Liền Di Sản Văn Hóa Và Tâm Linh
Diễn ra tại chùa Từ Đàm, Huế
Nhận thấy thời cơ đã chín muồi, ngày 6-5-1951, năm mươi mốt đại biểu của sáu tổ chức Phật giáo ở Nam bộ, Trung bộ và Bắc bộ đã họp hội nghị tại chùa Từ Đàm, Huế. Sáu tổ chức Phật giáo tham dự bao gồm:
- Phật giáo Tăng già Bắc Việt
- Việt Nam Phật giáo (Bắc bộ)
- Giáo hội Tăng già Trung Việt
- Việt Nam Phật học (Trung bộ)
- Giáo hội Tăng già Nam Việt
- Hội Phật học Nam Việt (Nam bộ)
Hội nghị đã quyết định thống nhất Phật giáo toàn quốc Việt Nam. Đây được coi là cuộc vận động đoàn kết Phật tử đầu tiên tại Việt Nam, lấy ngày Phật đản làm ngày kỷ niệm thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam.
Bầu chọn lãnh đạo Tổng hội
Hội nghị đã bầu Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, trụ trì chùa Tường Vân (Đà Nẵng) làm người đứng đầu Tổng hội Phật giáo Việt Nam với chức danh Pháp chủ. Văn phòng Tổng hội đặt tại chùa Từ Đàm, Huế.
Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1890 – 1973) là một bậc cao Tăng có uy tín lớn trong giới Phật giáo cả nước. Ngài là người có công lớn trong việc chấn hưng Phật giáo ở miền Trung, đặc biệt là ở Đà Nẵng và Huế. Việc suy tôn Ngài làm Pháp chủ đã thể hiện sự đồng thuận cao của các tổ chức Phật giáo trong cả nước.
Bản Tuyên ngôn thành lập Tổng hội
Kết thúc Hội nghị đã thông qua bản Tuyên ngôn có nội dung sâu sắc:
“Bánh xe Phật pháp xoay vần trên khắp quốc độ Việt Nam đến nay đã gần hai mươi thế kỷ. Nhân tâm, phong tục, văn hóa, chính trị trong nước đều đã chịu ảnh hưởng rất sâu xa của Phật giáo. Tăng đồ và thiện tín từ Bắc vào Nam, một lòng quy ngưỡng đức Điều Ngự Thích-ca Mâu-ni, sống trong tinh thần từ bi hỷ xả và luôn luôn lo toan xây dựng hòa bình. Nhưng sự đời không hòa nhịp với lòng mong mỏi; hoàn cảnh trước đây đã chia ranh giới ba phần nên Phật sự cũng phải tùy duyên mặc dầu Phật pháp vẫn bất biến. Sự tướng mỗi phần mỗi khác, làm cho mặt bàng quan xem như có điều chia rẽ. Nay cơ duyên thuận tiện, Phật giáo Việt Nam phải được thống nhất. Hơn nữa, họa chiến tranh đang gieo rắc khắp nơi, nhân loại đương lâm vào cảnh lầm than phiền não. Chính là lúc đạo từ bi và vô thượng phải đem nước Cam Lộ mà rưới tắt lửa sân si để xây dựng cảnh hòa bình cho nhân loại.”
Bản Tuyên ngôn này không chỉ nêu rõ lý do, mục đích thành lập Tổng hội mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của Phật giáo trước vận mệnh đất nước và nhân loại trong bối cảnh chiến tranh đang diễn ra trên toàn thế giới.
Những hoạt động tiếp theo sau khi thành lập
Thành lập Giáo đoàn Tăng già Phật giáo toàn quốc
Mặc dù Tổng hội Phật giáo Việt Nam được thành lập vào năm 1951, nhưng hoạt động của Tổng hội bị thực dân Pháp tìm cách phá hoại. Mãi đến ngày 8-7-1953, Chính quyền vùng tạm chiếm mới ký nghị định số 45MI/ĐDP chính thức công nhận và cho phép Tổng hội Phật giáo Việt Nam được hoạt động. Do đó, trên thực tế, hoạt động của Tổng hội Phật giáo Việt Nam chỉ giới hạn trong các tự viện.
Để giúp Tổng hội Phật giáo Việt Nam thống nhất lãnh đạo các hoạt động Phật giáo và tạo mối quan hệ với các tổ chức Phật giáo trên toàn thế giới, vào tháng 9 năm 1952, đại biểu Tăng đoàn cả ba miền đã tổ chức đại hội tại chùa Quán Sứ, Hà Nội thành lập Giáo đoàn Tăng già Phật giáo toàn quốc.
Giáo đoàn này có các chức danh lãnh đạo quan trọng:
- Trưởng ban: Hòa thượng Thích Huệ Tạng
- Trưởng ban điều hành: Hòa thượng Thích Trí Hải
- Tổng thư ký: Hòa thượng Thích Tố Liên
Tham gia Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới
Tổng hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành viên sáng lập của Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới, được thành lập năm 1950 tại Colombo (Sri Lanka). Tổng hội đã cử đại biểu đi tham dự tất cả các khóa họp của Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới, thể hiện tinh thần giao lưu, hợp tác quốc tế và đóng góp vào sự nghiệp hòa bình, từ bi của Phật giáo toàn cầu.
Ý nghĩa và giá trị lịch sử của Tổng hội Phật giáo Việt Nam
Đáp ứng nguyện vọng thống nhất lâu dài
Sự ra đời của Tổng hội Phật giáo Việt Nam năm 1951 đã đáp ứng được nguyện vọng của tín đồ Phật giáo về một nền Phật giáo Việt Nam thống nhất. Như lời ca ngợi trong bài hát “Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc, Trung, Nam”:
“Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc, Trung, Nam từ đây,
Một lòng chúng ta đứng lên vì đạo thiêng.
Nào cùng vui trong ánh đạo vàng rạng ngời bốn phương,
Vang ca đón chào Phật giáo Việt Nam.”
Tổng hội không chỉ là một tổ chức hành chính mà còn là biểu tượng tinh thần, là nơi quy tụ, đoàn kết toàn thể Tăng Ni, Phật tử trong cả nước.
Tạo tiền đề cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam
Phong trào thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam được ví như một cuộc cách mạng về Phật giáo ở Việt Nam. Đây là dấu mốc quan trọng để Phật giáo Việt Nam – với vai trò “Hộ quốc an dân”, tiếp bước cùng dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước.
Sự thống nhất này dù chưa được triệt để vì một số vùng miền của đất nước vẫn còn dưới sự thống trị của thực dân Pháp, nhưng đây là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam các giai đoạn kế tiếp. Tổng hội đã tạo nền tảng cho việc xây dựng một Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, có tổ chức, có kỷ cương, có thể tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội, giáo dục, từ thiện và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước.
Góp phần vào phong trào chấn hưng Phật giáo
Tổng hội Phật giáo Việt Nam là đỉnh cao của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX. Phong trào này không chỉ khôi phục lại uy tín, vị thế của Phật giáo trong xã hội mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống tinh thần, đạo đức của người dân.
Tổng hội đã thúc đẩy việc giảng dạy Phật học, xuất bản kinh sách, báo chí, tổ chức các khóa tu, các hoạt động từ thiện xã hội. Những hoạt động này đã góp phần làm cho đạo Phật ngày càng gần gũi, thiết thực hơn với đời sống của quần chúng nhân dân.
Khẳng định vai trò của Phật giáo trong xã hội hiện đại
Sự ra đời của Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã khẳng định rằng Phật giáo không phải là một tôn giáo chỉ biết tu hành, tránh đời mà là một tôn giáo có trách nhiệm với xã hội, với đất nước. Với tinh thần “Tốt đạo, đẹp đời”, Phật giáo Việt Nam đã và đang đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bài học kinh nghiệm và giá trị truyền thống
Tinh thần đoàn kết, thống nhất
Bài học lớn nhất từ phong trào thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam là tinh thần đoàn kết, thống nhất. Dù ở ba miền khác nhau, dù có những khác biệt về phương thức hoạt động, nhưng các tổ chức Phật giáo đã biết vượt qua những khác biệt đó để hướng tới mục tiêu chung là thống nhất Phật giáo toàn quốc.
Tinh thần này vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay, khi mà Phật giáo Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với Phật giáo thế giới. Việc giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Giáo hội là điều kiện tiên quyết để Phật giáo Việt Nam có thể phát triển bền vững và đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước.
Tinh thần yêu nước, phụng sự xã hội
Tổng hội Phật giáo Việt Nam ra đời trong bối cảnh đất nước đang trải qua những biến động lớn. Các bậc cao Tăng, cư sĩ Phật tử yêu nước đã nhận thức rõ rằng, đạo và đời không thể tách rời. Yêu đạo thì phải yêu nước, phụng sự đạo thì phải phụng sự xã hội.
Tinh thần yêu nước, phụng sự xã hội của Tổng hội Phật giáo Việt Nam là một truyền thống quý báu, cần được kế thừa và phát huy trong thời đại ngày nay. Phật giáo cần tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước, tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội, giáo dục, y tế, môi trường, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Tinh thần giao lưu, hợp tác quốc tế
Tổng hội Phật giáo Việt Nam là thành viên sáng lập của Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới. Việc tham gia các tổ chức Phật giáo quốc tế đã giúp Phật giáo Việt Nam mở rộng quan hệ, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, tinh thần giao lưu, hợp tác quốc tế càng trở nên quan trọng. Phật giáo Việt Nam cần tiếp tục phát huy tinh thần này, tham gia tích cực vào các hoạt động của Phật giáo thế giới, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc.
Kết luận
Phong trào thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam năm 1951 là một sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của Phật giáo Việt Nam. Sự ra đời của Tổng hội không chỉ đáp ứng nguyện vọng lâu dài của các tín đồ Phật giáo về sự thống nhất mà còn góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng một xã hội hòa bình, công bằng.
Tổng hội Phật giáo Việt Nam là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, thống nhất, yêu nước, phụng sự xã hội và giao lưu, hợp tác quốc tế. Những giá trị truyền thống quý báu này cần được kế thừa, phát huy trong thời đại ngày nay, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn vì hạnh phúc của nhân dân.
Cập Nhật Lúc Tháng 1 21, 2026 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân
