Cúng Đất Tháng 3: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa và Nghi Lễ Đặc Sắc Của Người Bình Thuận

Tập tục cúng đất tháng 3 không chỉ là một nghi lễ truyền thống mà còn là minh chứng rõ nét cho quá trình lịch sử giao thoa văn hóa tại mảnh đất Bình Thuận. Khi người Việt di cư vào phương Nam, họ mang theo tín ngưỡng “tá thổ” – tức là mượn đất để sinh cơ lập nghiệp. Nghi lễ này diễn ra vào tháng 3 âm lịch hằng năm, không chỉ để tạ ơn tiền chủ mà còn để cầu mong một năm mới an lành, thịnh vượng.

Bài viết này sẽ giải mã chi tiết về nguồn gốc, ý nghĩa và các nghi thức cúng đất đặc sắc của người dân nơi đây, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về một phong tục đẹp phản ánh lối ứng xử khiêm nhường và lòng biết ơn của người Việt trên vùng đất mới.

Cúng Đất Tháng 3: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Nghi Lễ Đặc Sắc Của Người Bình Thuận
Cúng Đất Tháng 3: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Nghi Lễ Đặc Sắc Của Người Bình Thuận

Tá thổ là gì? Nguồn gốc phong tục cúng đất tháng 3

Theo định nghĩa trong từ điển Hán-Việt, “tá” có nghĩa là vay, mượn; “thổ” là đất. Vì vậy, “tá thổ” có thể hiểu nôm na là nghi lễ cúng mượn đất. Đây là một phong tục rất phổ biến ở khu vực Nam Trung Bộ, được xác lập từ sớm, ít nhất là từ thế kỷ XV khi những người Việt đầu tiên vượt đèo Hải Vân đi về phía Nam để hình thành nên vùng Ngũ Quảng.

Theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Khánh, tục cúng tá thổ là một phong tục rất phổ biến ở khu vực Nam Trung Bộ, nó được xác lập từ sớm, ít nhất thế kỷ XV. Khi người Việt tiến sâu hơn vào phía Nam, lệ cúng tá thổ này cũng được mang theo và thực hiện khắp các tỉnh ven biển miền Trung, trong đó có Bình Thuận.

Quá trình hình thành tại Bình Thuận

Theo sách Đại Nam nhất thống chí, vùng đất Hàm Thuận – Bình Thuận ngày nay xưa kia thuộc vương quốc cổ Champa. Phải đến cuối thế kỷ XVII, quân đội của chúa Nguyễn được lệnh tiến sâu xuống phía Nam. Năm Đinh Sửu (1697), Bình Thuận chính thức thống thuộc chính quyền Đàng Trong. Khi đó, theo sau các đạo quan binh của triều đình là các đợt di cư của người dân từ Ngũ Quảng, họ lần lượt ghé vào các cửa biển Bình Thuận; trong đó, Phú Hài là một trong số những điểm đến đầu tiên.

Khi người Việt vào lập nghiệp tại Phú Hài, vùng đất này trở thành một cửa khẩu quan trọng trên tuyến giao thông đường biển Bắc – Nam. Tàu buôn Trung Hoa vào buôn bán rất đông, tạo nên cảnh “trên bến dưới thuyền”. Dần về sau, theo dòng sông Cái, người Việt tiến sâu hơn vào nội địa, hình thành các làng như: Thiện Mỹ, Dương Xuân, Phú Trường… thuộc khu vực Phú Long ngày nay.

Mặc dù cách xa vùng đất cội nguồn cả về không gian lẫn thời gian, nhưng những phong tục tập quán xưa vẫn được duy trì. Bình Thuận lại là xứ có tiếng “nhiều ma” (theo câu “cọp Khánh Hòa ma Bình Thuận”), vì thế tục cúng đất/tá thổ cũng được xem là bệ đỡ tâm linh cho người dân quê trên vùng đất mới.

Sự tiếp biến văn hóa Việt – Chăm

Điểm đặc biệt trong tục cúng tá thổ ở Bình Thuận chính là sự giao thoa văn hóa. Theo các nhà nghiên cứu, người Chăm chính là chủ nhân của vùng đất này trước khi người Việt đến. Vì vậy, khi người Việt đến định cư, họ phải “xin tá thổ”.

Theo tác giả Lê Hồng Khánh, “chủ đất ở đây không chỉ có nghĩa là ‘sở hữu chủ’ về đất đai, mà còn là người nắm giữ các tri thức dân gian về sự thích nghi của con người trong điều kiện sinh thổ của vùng đất mới để sản xuất, sinh sống”.

Cúng Đất Tháng 3: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Nghi Lễ Đặc Sắc Của Người Bình Thuận
Cúng Đất Tháng 3: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Nghi Lễ Đặc Sắc Của Người Bình Thuận

Nghi lễ cúng tá thổ: Phẩm vật và cách thức thực hiện

Thời gian cúng tá thổ ở Nam Trung Bộ thường diễn ra từ đầu xuân cho đến trung tuần tháng 3 âm lịch. Riêng ở Phú Long và một số địa phương khác thuộc huyện Hàm Thuận Bắc, người dân thường cúng đất vào ngày mùng 10 tháng 3. Đây cũng là mốc thời gian tương tự như lệ ở quê gốc.

Thời gian và không gian cúng

Lễ cúng tá thổ thường được tổ chức vào lúc xế chiều. Bàn cúng được thiết trí bên hiên nhà hoặc đặt dưới đất trước sân, bên dưới trải một chiếc chiếu.

Hai mâm cúng đặc trưng

Lễ vật được chia thành hai mâm cúng riêng biệt:

  1. Mâm cúng thần hoàng bổn xứ: Dành cho các vị tôn thần cai quản xứ sở, khuôn viên gia cư.
  2. Mâm cúng ông bà chủ đất: Dành cho những cô hồn xiêu mồ lạc mả, thập loại chúng sinh không nơi nương tựa.

Mâm cúng thần hoàng

Theo các tài liệu tham khảo, mâm cúng thần hoàng thường bao gồm:

  • 1 con gà trống kiến luộc chín.
  • Dĩa tam sên (khúc thịt ba rọi, quả trứng và con cua đồng, ghẹ hoặc tôm luộc chín).
  • 12 chén chè đậu.
  • 6 dĩa xôi.
  • 1 trái dừa (đã bóc sạch vỏ).
  • Hoa quả (phải có nải chuối), trầu cau, rượu, trà.

Mâm cúng Hội đồng (mâm cúng chủ đất)

Mâm cúng này có nhiều món hơn, được chế biến từ sản vật thổ nghi vùng đồng bằng duyên hải rất đặc trưng, gồm:

  • 6 dĩa gỏi cá (cá trích hoặc cá mai).
  • Bánh tráng nướng.
  • Tô canh chua.
  • Cơm trắng.
  • Cá nhám khô nướng chín.
  • Con mắm.
  • Dĩa rau muống luộc.
  • Thuốc lá, bánh ngọt, chén gạo muối.
  • 1 “bộ đồ” (giấy cúng): Trên đó có vẽ một số con vật (gà, vịt, heo, trâu, bò, ngựa, voi, cọp…), nông cụ và một số vật dụng như: ấm, chén, võng, dao, kéo, gương, lược…

Nhà nghiên cứu Võ Ngọc Văn cho rằng các thức cúng như mắm, cá nhám khô… có liên hệ rất gần gũi với một số tín ngưỡng của cộng đồng người Chăm. Đây là sự tiếp biến văn hóa trên vùng đất mới mà người Việt đến sinh cơ lập nghiệp. Đặc biệt, trong tâm thức cư dân Việt, gạo và muối là sản vật thiêng liêng do trời đất ban tặng, cho nên trong cuộc cúng đất đai, không thể thiếu chén gạo muối.

Quy trình khấn vái và nghi thức sau cúng

Sau khi thiết đặt bàn lễ xong, gia chủ đốt nhang khấn vái. Nội dung khấn đại ý nói lên lòng biết ơn của mình đối với tiền chủ khuất mặt đã cho thuê đất trong năm qua; đồng thời xin được tiếp tục mượn đất trong năm mới và hứa sẽ cúng tạ đầy đủ. Gia chủ cũng cầu xin thần, chủ phù hộ cho đất đai không bị uế tạp, trồng cây nào, nuôi con gì đều sinh trưởng phát triển tốt.

Sau khi cúng xong, gia chủ lấy 1 tờ giấy cúng (trong bộ đồ thần) trên có vẽ con cọp dán lên vách hiên nhà, mặt quay ra hướng đại lợi. Ý nghĩa của việc này là để ông hổ trấn giữ, bảo vệ gia chủ và khu đất đó.

Trước khi cúng, chủ nhà còn chuẩn bị cái bẹ chuối gập lại (mí cao mí thấp, ở giữa buộc lạt cố định) giống như cái gùi. Sau khi cúng xong, họ gấp ít đồ cúng cho vào gùi rồi đem ra bìa đất đặt dưới gốc cây để ông bà chủ mang về cho con cháu. Gạo muối được rải đi, giấy cúng đem đốt. Lễ cúng tá thổ theo đó đã hoàn mãn.

Cúng Đất Tháng 3: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Nghi Lễ Đặc Sắc Của Người Bình Thuận
Cúng Đất Tháng 3: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Nghi Lễ Đặc Sắc Của Người Bình Thuận

Ý nghĩa văn hóa và xã hội của tục cúng đất

Cúng tá thổ là một tập quán đẹp của người dân vùng đất Phú Long và các tỉnh Nam Trung Bộ. Nó thể hiện lối ứng xử khiêm nhường, thân thiện khi “mượn đất”, “thuê đất” để định cư, tạo dựng cuộc sống mới.

Tập tục này phản ánh thái độ trân trọng, có trước có sau với tiền chủ đã có công khai phá để người đến sau có nơi tá túc làm ăn, phát triển sản nghiệp. Qua đó, lễ cúng đất góp phần hình dung về bức tranh dân cư hồi thế kỷ XVII-XVIII, cũng như quá trình giao thoa và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm trên vùng đất Bình Thuận.

Ngoài ra, việc tìm hiểu và gìn giữ các phong tục truyền thống như cúng tá thổ cũng là cách để chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử hình thành làng xã, cộng đồng người Việt tại miền Nam Trung Bộ. Đây cũng là nguồn tư liệu quý giá cho các nghiên cứu văn hóa dân gian.

Độc giả muốn tìm hiểu thêm về các phong tục tập quán đặc sắc của các vùng miền khác nhau, có thể tham khảo thêm các bài viết về văn hóa, lịch sử được tổng hợp chi tiết tại chuaphatanlongthanh.com.

Việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống như tục cúng tá thổ không chỉ là trách nhiệm của thế hệ đi trước mà còn là cách để những người con đất Việt hiểu rõ hơn về cội nguồn dân tộc. Đây chính là nét đẹp văn hóa cần được bảo tồn và phát huy trong đời sống hiện đại ngày nay.

Cập Nhật Lúc Tháng 1 14, 2026 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *