Lễ Cúng Chẩn Tế: Ý Nghĩa, Quy Trình & Ảnh Hưởng Trong Đời Sống Người Việt

Lễ cúng chẩn tế là một trong những nghi thức quan trọng của Phật giáo Bắc tông, đã du nhập vào Việt Nam từ hàng nghìn năm trước và trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân, đặc biệt là ở các vùng miền Nam bộ. Với mục đích cứu giúp, bố thí cho các vong hồn lang thang, chết oan, chết đói hay những người đã khuất, lễ cúng chẩn tế không chỉ thể hiện tinh thần từ bi, cứu khổ cứu nạn của Phật giáo mà còn mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa, phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cộng đồng người Việt.

Tổng Quan Về Lễ Cúng Chẩn Tế

Lễ Cúng Chẩn Tế
Lễ Cúng Chẩn Tế

Lễ cúng chẩn tế là gì? Đây là một nghi thức Phật giáo, trong đó “chẩn” có nghĩa là phân phát, bố thí; “tế” là cứu giúp, cứu tế. Như vậy, lễ cúng chẩn tế là việc bố thí, cứu giúp những vong hồn đang chịu khổ đau, đặc biệt là những người chết oan, chết đói, chết không nơi nương tựa. Trong tâm thức chung của cộng đồng, khi nói đến lễ cúng chẩn tế, mọi người thường nghĩ đến việc cúng tế cho người chết, hay đơn giản là “cúng cho cô hồn”.

Tuy nhiên, lễ cúng chẩn tế không chỉ đơn thuần là việc cúng tế cho người đã khuất, mà nó còn là một phần trong các lễ cầu an và cầu siêu, nhằm mang lại bình an, may mắn cho người sống. Đây là một nét văn hóa đặc sắc, thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc, lòng hiếu thảo với tổ tiên và sự quan tâm, chia sẻ với những người đã khuất.

Nguồn Gốc Lịch Sử

Về niên đại lễ chẩn tế du nhập vào Việt Nam, hiện chưa có một tư liệu nào nói chắc chắn. Tuy nhiên, theo các tài liệu lịch sử, lễ cúng chẩn tế có thể đã du nhập vào Việt Nam vào đầu thế kỷ XIII, do ngài Hứa Tông Đạo từ Trung Hoa truyền vào. Trong Việt Nam Phật giáo sử luận, tác giả Nguyễn Lang cho rằng khoa nghi này do ngài Hứa Tông Đạo từ Trung Hoa truyền vào Việt Nam đầu thế kỷ XIII. Hiện nay, chúng ta còn có một tư liệu do Trúc Lâm Đệ tam tổ Huyền Quang soạn là: “Pháp sư đạo tràng công văn cách thức thủy lục chư khoa”.

Tồn tại và phát triển ở Nam bộ, lễ cúng chẩn tế đã tiếp thu những yếu tố văn hóa địa phương, đồng thời chịu tác động từ các yếu tố khác như: hoạt động kinh tế, bối cảnh chính trị – xã hội, điều kiện tự nhiên,… Lễ cúng chẩn tế cũng phần nào phản ánh mối quan hệ, giao lưu, tiếp biến văn hóa của các cộng đồng dân tộc cùng sống cộng cư hoặc cận cư ở Nam bộ.

Các Loại Hình Lễ Cúng Chẩn Tế

Lễ cúng chẩn tế ở Việt Nam hiện gồm ba loại: Đại khoa, Trung khoa và Tiểu khoa (còn gọi là Tiểu Mông Sơn). Mỗi loại hình có những đặc điểm riêng biệt, phù hợp với từng hoàn cảnh và nhu cầu của người tổ chức.

Đại Khoa (Khoa Du Già)

Đại khoa là hình thức lễ cúng chẩn tế lớn nhất, được thực hiện ít nhất 6 giờ đồng hồ. Đây là nghi thức trang trọng nhất, bao gồm đầy đủ các phần: nhập đàn, ấn chú, chân ngôn, thỉnh Thập loại cô hồn, phá ngục, phát tấu, cúng chẩn tế, phóng đăng, phóng sinh,… Đại khoa thường được tổ chức vào các dịp lễ lớn, hoặc khi gia chủ có nhu cầu cầu siêu cho nhiều vong hồn.

Trung Khoa

Trung khoa là phần lược giản của Đại khoa, gồm hai phần chính: Đàn thượng và Đàn hạ. Đàn thượng là các nghi thức nhập đàn, ấn chú, chân ngôn; còn Đàn hạ là phần thỉnh Thập loại cô hồn. Trung khoa phù hợp với những gia đình có điều kiện vừa phải, muốn tổ chức lễ cúng chẩn tế một cách trang trọng nhưng không quá cầu kỳ.

Tiểu Khoa (Tiểu Mông Sơn)

Tiểu khoa là nghi lễ cúng cô hồn vào mỗi buổi chiều tại các chùa theo Phật giáo Bắc tông. Đây vốn xây dựng theo tinh thần của Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Kinh, sau này được phát triển thêm với tên gọi mới “Mông Sơn Thí Thực Nghi”, nghĩa là ngoài việc chú trọng cúng thí thức ăn, còn có phần quy y và thuyết giảng cho vong linh nghe. Trong các đàn Đại khoa và Trung khoa đều có phần “nhập Tiểu Mông Sơn”, chính là nghi thức Tiểu khoa này.

Quy Trình Thực Hiện Lễ Cúng Chẩn Tế

Một lễ cúng chẩn tế hoàn chỉnh bao gồm nhiều nghi thức, mỗi nghi thức đều có ý nghĩa riêng biệt, góp phần tạo nên một buổi lễ trang trọng, thiêng liêng.

Lễ Thượng Phan Sơn Thủy

Lễ Thượng phan Sơn Thủy là nghi thức triệu thỉnh tất cả hương hồn đã vong thân trên không, trên lộ, dưới nước về tại địa điểm có cây phan. Sau đó, sẽ được đưa vào đàn tràng để tham dự pháp hội, nghe pháp âm của Đức Phật mà tỉnh ngộ để thoát khỏi cảnh khốn cùng.

Nghi Thức Kiết Giới Đàn Tràng

Kiết giới là biến đổi nơi lập đàn tràng thành chốn trang nghiêm thanh tịnh. Cả dưới đất lẫn trên không đều quy định khu vực đàn tràng, kiết giới là biến đổi nơi lập đàn tràng thành chốn trang nghiêm thanh tịnh.

Lễ Hạ Phan Sơn Thủy

Lễ Hạ phan Sơn Thủy là nghi thức thỉnh chư hương linh dựa vào Thần Phan, theo tiếng niệm Phật tiếp dẫn để an tọa tại đàn tràng.

Lễ Hưng Tác Thượng Đại

Lễ Hưng Tác Thượng đại bao gồm các phần: Tràng phan, Bạch Tổ, Bạch Phật, Khai Kinh. Sau khi an vị Phan Sơn Thủy xong, lễ Hưng Tác bắt đầu để cáo với giang sơn, hồn thiêng đất nước, chư Hộ pháp Long thần và Thổ địa Tôn thần tại nơi diễn ra buổi lễ biết rõ thời gian, địa điểm tổ chức trai đàn. Đồng thời, hướng dẫn âm linh cô hồn về dự trai đàn, theo lời triệu thỉnh trong Đại Tràng phan dài 36m, được viết bằng chữ Hán trên giấy ngũ sắc.

Lễ Giải Oan Bạt Độ

Lễ Cúng Chẩn Tế
Lễ Cúng Chẩn Tế

Lễ Giải Oan Bạt Độ là nghi thức giải oan đoạn nghiệp. Đây là giây phút người sống và kẻ chết đều mong mỏi. Trước giờ hành lễ, tất cả trai chủ, Phật tử đều tập trung đầy đủ tại chánh điện (hoặc nơi làm lễ) để cung thỉnh vị Sám chủ và Ban kinh sư quang lâm cử hành lễ. Trong lễ Bạt Độ, đặc biệt nhất là nghi thức phá ngục để cứu hương linh đang chịu khổ trong đó ra. Khi ấy sẽ có một vị (tu sĩ hoặc người đời) đóng vai chèo đò đưa các thầy sang sông cứu vớt hương linh. Nghi thức này không phổ biến, chỉ khi nào gia chủ có nhu cầu và thường được thực hiện ở miền Trung. Ở miền Nam thay vào đó là nghi thức Phát Tấu, gồm phần Xá Hạc (chim Hạc) và Xá Mã (ngựa), nhờ hai con vật này chở tấu chương về tâu các nơi như thiên đình và thủy cung.

Đại Lễ Trai Đàn Chẩn Tế

Đại lễ Trai đàn Chẩn tế là nghi thức chính của lễ cúng chẩn tế. Các vị Gia Trì Sư và kinh sư sẽ cung hành nghi thức Tham lễ Giác Hoàng (lễ Phật). Tham lễ xong, vị Gia Trì Sư và chư vị kinh sư đi trước; gia chủ và những người khác đi sau ra ngoài đàn, đến trước án Tiêu Diện, Địa Tạng, Ngũ Phương Phật để cung thỉnh chư Phật chứng minh đàn tràng. Tiếp theo, đến Bàn Giác Hoa tiến hành nghi thức thỉnh vị Gia Trì Sư lên bảo tọa, thay Phật thuyết giới cho âm linh cô hồn.

Sau đó, Ngài kiết ấn, niệm chú vào sư tử tòa, bảo tọa, màn song khai và chính tự thân trước khi ngồi kiết già trên bảo tọa. Màn song khai mở ra, nghi thức chẩn tế bắt đầu: sái tịnh, cung thỉnh chư Phật và Bồ tát chứng minh, thỉnh chư hương linh và 12 hạng cô hồn cùng đến dự. Tiếp theo là nhập Tiểu Mông Sơn để biến hóa thức ăn phù hợp và dư đủ cho các hạng cô hồn dùng. Sau đó, sẽ rưới nước Cam lộ, vị Tả chức nhận bình nước đã làm phép từ Sám chủ đi từ từ đến phía trước và rưới nước. Tại vị trí đó, nhiều Phật tử chuẩn bị sẵn vật dụng để hứng nước Cam lộ. Tiếp theo là hồi hướng công đức, cầu cho tất cả chúng sanh an lành, sanh về cực lạc. Sau khi hạ đàn, chư Tăng trở về nội đàn, đến bàn Phật làm lễ Tạ Phật hoàn Kinh, lễ đến đây hoàn mãn. Ngoài ra, lễ cúng còn có các phần: phóng đăng, phóng sinh…

Bố Trí Đàn Tràng Trong Lễ Cúng Chẩn Tế

Đàn tràng trong lễ cúng chẩn tế được chia thành hai phần: nội đàn và ngoại đàn.

Nội Đàn

Nội đàn gồm bàn Phật (chùa có chánh điện, tư gia có bàn thờ Phật là nơi tham lễ Giác Hoàng); bàn kinh (nơi để chuông, mõ, pháp khí).

Ngoại Đàn

Ngoại đàn gồm Màn Sư tử tòa (bức màn có hình sư tử dáng vẻ oai nghiêm, treo sau lưng vị Gia Trì Sư, tượng trưng chỗ ngồi của Phật); Bảo tọa (chỗ ngồi của Gia Trì Sư, đại diện chư Phật để hoằng dương chánh pháp); Màn song khai (bức màn chia đôi trước bảo tọa, đóng lại hoặc mở ra tùy theo quy định của khoa nghi); bàn Kim đài (kinh sư ngồi hai bên tả hữu, mỗi bên ba hoặc bốn vị); Bàn Giác Hoa (Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, một Đức Phật ở cõi Ta bà); các án Ngũ phương Phật (gồm năm bàn thiết trí theo hướng Đông – Tây – Nam – Bắc và Trung ương); bàn Hộc thực (vị trí thấp, để bài vị và đồ cúng cô hồn); bàn Tiêu Diện (cao hơn bàn Địa Tạng, thiết trí ba tượng Địa Tạng, Tiêu Diện và Hộ Pháp nên còn gọi là bàn Tam Bảo ngoại).

Vật Phẩm Trong Lễ Cúng Chẩn Tế

Vật phẩm trong đàn cúng chẩn tế chia làm hai phần:

  1. Cung thỉnh chư Phật, Bồ tát, thần thánh… triệu thỉnh chư hương linh, vong hồn.

  2. Vật phẩm cúng: Thường có 6 loại: hương, hoa, đăng, trà, quả, thức ăn, gọi chung là lục cúng. Thức ăn cúng Phật chỉ gồm đồ chay, thường là cơm và xôi chè. Riêng với thần thánh thì tùy người tổ chức, có thể cúng cả chay và mặn, ngoài ra còn có lá phan và bảo cái.

Thực phẩm cúng cho nhóm đối tượng thứ hai rất đa dạng. Ngoài hương, hoa, đăng, trà, quả, thức ăn, còn có một số khác bắt buộc, như: gạo, muối, cháo loãng, cốm nổ, xôi chè, tiền cúng, mía, các loại khoai,… tùy vào gia chủ mà có thêm vàng mã. Riêng miền Bắc sẽ có oản. Tùy điều kiện gia chủ, có thể thêm nhiều đồ cúng khác như: kẹo bánh, áo quần (thật). Vật cúng có thể treo lên “cộ” (giá đỡ hình chóp, bằng tre, dán giấy bên ngoài) hoặc xếp trên mâm và bàn.

Nghệ Thuật Diễn Xướng Trong Lễ Cúng Chẩn Tế

Nghệ thuật diễn xướng trong lễ cúng chẩn tế là đỉnh cao về nghệ thuật diễn xướng của âm nhạc Phật giáo. Theo nhà nghiên cứu Trần Văn Khê, “… nét nhạc của các bài tụng, tán thay đổi tùy theo miền, theo vùng. Mà thang âm, điệu thức dùng trong những bài tán, tụng rất gần thang âm điệu thức của tiếng hát ru và những điệu dân ca đặc biệt của mỗi vùng…. Có hai điệu thức chính được dùng: điệu Thiền (dùng hơi nhạc, hơi hạ trong nhạc tài tử miền Nam) và điệu Ai. Các điệu thay đổi tùy theo nội dung bài”.

Trong một lễ cúng, về phía ban kinh sư, một vị đàn chủ phải đầy đủ oai nghi phẩm hạnh, chất giọng tốt, am tường chữ Hán và nghệ thuật diễn xướng. Các lối diễn xướng được sử dụng trong lễ cúng gồm: Bạch, Nói, Thỉnh, Nguyện, Đọc, Tụng, Vịnh, Tán. Để một lễ cúng chẩn tế thành công, phải đầy đủ yếu tố hình thức và tâm thức.

Lễ Cúng Chẩn Tế
Lễ Cúng Chẩn Tế

Ảnh Hưởng Của Lễ Cúng Chẩn Tế Trong Đời Sống Văn Hóa Phật Tử Người Việt Nam Bộ

Lễ cúng chẩn tế không chỉ là một nghi thức tôn giáo, mà còn có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống văn hóa, tâm linh của người Việt, đặc biệt là ở Nam bộ.

Trong Đời Sống Cá Nhân

Quan niệm coi trọng người đã khuất, các bậc tiền bối,… đã chứng minh cho tấm lòng thương nhớ, tính nhân bản của con người. Đó còn là sự cầu mong cuộc sống bình an, thể hiện yếu tố trọng lý và trọng tình trong văn hóa phương Đông. Mặt khác, tâm lý tiếc thương người thân đã mất đưa đến suy nghĩ người thân có thể đang chịu cảnh thiếu thốn, khổ đau và cần sự giúp đỡ.

Với cư dân Nam bộ, đặc biệt ở buổi đầu đất rộng người thưa, nhiều thú dữ và bệnh dịch, mối quan hệ giữa các thành viên gia đình do vậy rất quan trọng. Sự ra đi vĩnh viễn của bất kỳ thành viên nào cũng khiến gia đình hụt hẫng, trống vắng. Ngoài ra, việc thường xuyên di chuyển chỗ ở khiến mồ mả người thân không có điều kiện trông nom. Vì vậy, việc tổ chức lễ cúng tưởng nhớ người thân đã khuất, cầu mong được cảm thông và tha thứ, mong giải tỏa oan khuất, dằn vặt, cầu nguyện cho họ được thanh thản siêu thoát, cầu xin người đã khuất phù hộ cho người sống bình an vô sự là chuyện nên làm khi điều kiện cho phép.

Trong Đời Sống Cộng Đồng

Ở cư dân nông nghiệp, yếu tố cộng đồng rất quan trọng, “bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Lễ cúng chẩn tế để cầu an hay cầu siêu, dù do cá nhân hay tập thể tổ chức, cũng phải đủ ba hoạt động: cúng Phật, cúng những vị thần ở địa phương diễn ra lễ cúng (thần Thành Hoàng Bổn Cảnh) và cúng hương linh, vong linh, tri ân các anh hùng liệt sĩ vị quốc vong thân, chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn trong các cuộc chiến tranh và thiên tai bão lũ, cầu mong cho họ được sanh về cảnh giới an lành. Đặc biệt, trong các lễ cúng do cá nhân tổ chức, ngoài tên của người được cúng chính và ông bà tổ tiên gia chủ, những người đến tham gia cũng được khuyến khích gửi tên thân nhân của mình để cầu siêu.

Về tâm linh, một gia đình hay tập thể tổ chức lễ cúng thì lợi ích cho cộng đồng lớn hơn, chứ không đơn thuần chỉ cho đối tượng được xướng danh, như người xưa có câu: “nhất nhơn tác phước thiên nhơn hưởng, độc thọ khai hoa vạn thọ hương” (một người làm việc tốt nhiều người hưởng chung, trong vườn có cây hoa nở hoa thì cả vườn thơm lây).

Lễ Cúng Chẩn Tế
Lễ Cúng Chẩn Tế

Về thực tế, khi tổ chức một lễ cúng cần huy động rất nhiều người, ngoài những người gửi tên cầu siêu ra, những người không gửi hoặc là Phật tử cũng có thể đến giúp đỡ. Trong khi cử hành lễ cúng, về lý, vị Sám chủ đội mão Tỳ lư, mặc y gấm, là hình ảnh Bồ tát Địa Tạng đại diện cho Phật thuyết pháp và bố thí thức ăn cho vong hồn. Nhưng ở góc độ phi tôn giáo, hình ảnh thầy sám chủ mặc trang phục đẹp, ban kinh sư dùng pháp khí với nhạc lễ xung quanh,… tất cả những yếu tố đó tựa như một hình thức diễn xướng nghệ thuật. Không chỉ đối với Phật tử người Việt, lễ cúng chẩn tế còn là cơ hội giao lưu giữa các cộng đồng cư dân Chăm, Khmer, Hoa, Việt… trên vùng đất Nam bộ.

Về Tôn Giáo

Lễ cúng chẩn tế thể hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo. Một việc làm vì nhiều người, không chỉ riêng cho cá nhân nào. Một lễ cúng không chỉ phục vụ nhu cầu thiết thực của gia chủ, mà còn hướng lợi ích an lạc cho nhiều đối tượng khác.

Có thể nói, được truyền vào Nam bộ từ thuở sơ khai, lễ cúng chẩn tế đã tồn tại và tiếp sức người dân và những Phật tử nơi đây. Trong đời sống, với hoàn cảnh khó khăn ở vùng đất mới, việc tổ chức cầu an, cầu siêu giúp người sống vơi bớt phần nào khổ đau, mất mát. Những hiểm họa bất an nơi vùng đất mới hoang vu cũng làm cho người dân canh cánh nỗi lo, nỗi sợ hãi, việc tổ chức lễ cúng chẩn tế ngoài mong muốn giúp người chết giải thoát, còn là khát vọng cho người sống được yên ổn, tránh bệnh tật và làm ăn thuận lợi. Lễ cũng là cơ hội để mọi người có dịp gần gũi, tìm hiểu và thông cảm nhau hơn trong cuộc sống. Ngoài ra, những tiết tấu diễn xướng trong lễ cúng cũng góp phần làm cho cuộc sống người dân bớt đi sự buồn tẻ nơi đất lạ.

Kết Luận

Lễ cúng chẩn tế là một nghi thức Phật giáo quan trọng, không chỉ thể hiện tinh thần từ bi, cứu khổ cứu nạn của Phật giáo mà còn mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa, phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cộng đồng người Việt. Với mục đích cứu giúp, bố thí cho các vong hồn lang thang, chết oan, chết đói hay những người đã khuất, lễ cúng chẩn tế đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân, đặc biệt là ở các vùng miền Nam bộ.

Qua quá trình hình thành và phát triển, lễ cúng chẩn tế đã tiếp thu những yếu tố văn hóa địa phương, đồng thời chịu tác động từ các yếu tố khác như: hoạt động kinh tế, bối cảnh chính trị – xã hội, điều kiện tự nhiên,… Lễ cúng chẩn tế cũng phần nào phản ánh mối quan hệ, giao lưu, tiếp biến văn hóa của các cộng đồng dân tộc cùng sống cộng cư hoặc cận cư ở Nam bộ.

Để tìm hiểu thêm các thông tin hữu ích khác về văn hóa, tâm linh, đời sống, mời bạn truy cập chuaphatanlongthanh.com.

Cập Nhật Lúc Tháng 1 2, 2026 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *