Sự Tích Phật Bà Quan Âm Bồ Tát: Hành Trình Từ Thị Kính Đến Diệu Thiện

Trong tâm thức người Việt, hình ảnh Phật Bà Quan Âm hiện lên như một biểu tượng của lòng từ bi vô tận, cứu khổ cứu nạn. Những câu chuyện về ngài không chỉ là những tích xưa, mà còn là bài học đạo đức sâu sắc, thấm đẫm triết lý nhân sinh. Có lẽ, chẳng ai là không biết đến hai kiếp giáng trần nổi tiếng nhất của ngài: kiếp Thị Kính đầy bi thương và kiếp công chúa Diệu Thiện kiên trinh. Đây không đơn thuần là những truyền thuyết, mà là hành trình tâm linh đầy oan nghiệt, thử thách, và cuối cùng là sự giác ngộ cao cả.

Hành Trình Giáng Trần: Từ Bồ Tát Đến Thị Kính

Trước khi trở thành một biểu tượng được tôn thờ khắp nơi, Quán Âm Bồ Tát vốn là một vị Phật đã chứng quả, nhưng vì đại nguyện cứu độ chúng sinh mà ngài nguyện ở lại cõi ta bà. Theo các ghi chép, ngài đã phân thân giáng trần 33 kiếp, khi là nam nhi, khi là thiếu nữ, khi ở chốn quyền quý, khi lại hóa thân vào cảnh đời bần cùng. Mỗi kiếp sống là một bài học, một thử thách để rèn luyện tâm tính. Và kiếp thứ mười, với thân phận Thị Kính, là một trong những câu chuyện cảm động nhất.

Kiếp Thị Kính: Bi kịch của một người phụ nữ trinh bạch

Thị Kính, con gái nhà họ Sùng, một gia đình giàu có và nhân hậu ở xứ Cao Ly. Nàng xinh đẹp, nết na, là niềm tự hào của cha mẹ khi đã lớn tuổi mà chỉ có mỗi nàng là con gái duy nhất. Khi đến tuổi cập kê, nàng được gả cho Thiện Sĩ, con trai một gia đình quyền quý. Cuộc hôn nhân tưởng chừng như viên mãn, nhưng bi kịch đã ập đến chỉ vì một hiểu lầm tai hại.

Một ngày nọ, Thị Kính đang ngồi may, Thiện Sĩ đọc sách mỏi mệt liền ra gần chỗ nàng mà nằm nghỉ, rồi ngủ thiếp đi. Trong khoảnh khắc yên tĩnh ấy, Thị Kính mới có dịp nhìn kỹ khuôn mặt của chồng mình. Chợt nàng thấy dưới cằm Thiện Sĩ có mọc một sợi râu, và theo những kiến thức về tướng số mà nàng biết, sợi râu ấy là điềm bất lợi. Trong lúc hoảng sợ, nàng cầm kéo trên tay, định cắt bỏ sợi râu đó. Đúng lúc ấy, Thiện Sĩ giật mình tỉnh dậy, thấy vợ cầm kéo đưa về phía cổ mình, liền la hoảng lên: “Vợ tôi muốn giết tôi!”

Sự việc vỡ lở, cha mẹ Thiện Sĩ, vốn là những người nghiêm khắc, không nghe lời giải thích của Thị Kính. Họ cho rằng nàng có ngoại tình và mưu hại chồng, bèn bắt tội nàng và buộc con trai phải làm tờ để vợ, mời cha mẹ Thị Kính đến lãnh con về. Cha mẹ Thị Kính đau xót, nhưng cũng không thể làm gì khác ngoài việc đón con gái trở về.

Về nhà, Thị Kính buồn bã vô cùng. Một là buồn cho số phận long đong, tình duyên trắc trở; hai là buồn cho cha mẹ phải mang nỗi phiền muộn trong lòng. Là một người phụ nữ chung thủy, nàng không thể nào chấp nhận “ôm cầm thuyền ai” cho dù có bị ép buộc. Nhưng nàng cũng không nỡ tự hủy mình, vì sợ e thất hiếu. Cuối cùng, nàng quyết chí xuất gia, tu hành cho đắc đạo rồi trở về độ lại mẹ cha.

Những năm tháng truân chuyên nơi cửa chùa

Thị Kính cải trang nam tử, trốn khỏi nhà, tìm đến một ngôi chùa để nương nhờ. Sư cụ ở đây, dù ban đầu nghi ngờ, nhưng thấy nàng chí quả quyết, liền nhận nàng làm đệ tử và ban pháp danh là Kính Tâm.

Vì dung mạo khôi ngô, Kính Tâm thu hút sự chú ý của nhiều tín nữ, trong đó có Thị Mầu, con gái một phú ông giàu có. Thị Mầu nhiều lần trêu ghẹo Kính Tâm, nhưng nàng vẫn trơ trơ như không hay không biết. Thất vọng, Thị Mầu quay lại tư tình với một tên ở trong nhà. Khi thai đã gần già, khí sắc nàng đổi, làng xã thấy thế mới đòi phú ông và nàng ra hỏi.

Thị Mầu, chịu đòn không kham, bèn khai rằng mình có tư tình với sãi Kính Tâm. Làng xã đến chùa đòi sư ông và Kính Tâm ra nghe dạy việc. Kính Tâm một mực kêu oan, nhưng không ai tin. Cuối cùng, nàng phải chịu tra tấn. Sư ông động lòng từ tâm, đứng ra bảo lãnh cho trò, nhưng hương đảng vẫn không tin, buộc Kính Tâm phải ra ở ngoài tam quan để tránh tiếng xấu cho chùa.

Một thời gian sau, Thị Mầu sinh con, bèn bồng hài nhi đến cửa tam quan bỏ đó, nói rằng: “Con của ngươi, đem trả cho ngươi.” Kính Tâm, dù đang tụng kinh, nghe đứa nhỏ khóc la, động lòng từ bi, bèn ra ẵm đứa bé vào, mướn vú nuôi bên tự. Mẹ vò nuôi con nhện lắt lẻo qua ngày.

Sư cụ trách Kính Tâm, nhưng nàng chỉ nói: “Bạch sư phụ, cứu đặng một người, phước đức hà sa. Đệ tử vâng lời thầy mới cứu mạng đứa trẻ này, chứ kỳ trung con không có ý chi hết.”

Cái chết và sự giác ngộ

Khi Kính Tâm tắt hơi, đứa trẻ theo lời cha dặn đem bức thơ vào dâng cho sư cụ. Xem thơ xong, sư ông rất ngậm ngùi, bèn phái vài vị ni cô ra coi tẩm liệm. Khám xét xong, mọi người mới hay Kính Tâm là nhi nữ trá hình.

Tin ấy truyền ra, hương lân nhóm lại buộc tội cáo gian Thị Mầu và phạt phải chịu tổn phí về các cuộc tống táng và làm ma chay cho Kính Tâm. Thị Mầu xấu hổ, quyên sinh để trốn khổ nhục.

Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát Và Hạnh Nguyện Của Ngài
Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát Và Hạnh Nguyện Của Ngài

Đến ngày an táng, thiên hạ đồng thấy Phật hiện trên mây rước hồn Kính Tâm là nàng Thị Kính. Hai vợ chồng Sùng Ông và Thiện Sĩ đến dự. Sau cuộc tống táng, Thiện Sĩ ăn năn lỗi trước, bèn phát nguyện tu hành.

Tục truyền rằng Thiện Sĩ sau đắc quả thành con chim ngậm xâu chuỗi bồ đề, đậu một bên Đức Phật Quan Âm, và Đức Phật Quan Âm cũng độ luôn con của Thị Mầu đắc quả hầu gần bên Ngài.

Kiếp Công Chúa Diệu Thiện: Kiếp Cuối Cùng Trước Khi Thành Phật

Kiếp thứ mười một, Quán Âm Bồ Tát giáng trần làm công chúa Diệu Thiện, con gái vua Linh Ưu, niên hiệu Diệu Trang, ở tiểu quốc Hưng Lâm bên Ấn Độ, vào năm 2587 trước Chúa giáng sinh.

Cuộc sống hoàng gia và ước nguyện tu hành

Vua Linh Ưu và hoàng hậu Bửu Đức đã trị vì nước Hưng Lâm được 40 năm mà chưa có hoàng tử. Bà hoàng hậu buồn bã, xin nhà vua lên núi Huê Sơn cầu tự. Về triều, bà có thai và lần lượt hạ sinh ba nàng công chúa: Diệu Thanh, Diệu ÂmDiệu Thiện. Vị công chúa thứ ba này chính là người sẽ tu hành đắc đạo, lấy hiệu là Quan Âm.

Vua không có con trai, nhứt định truyền ngai vàng lại cho một trong ba vị phò mã. Hai công chúa đầu đã được đính hôn cho hai vị quan to. Trái lại, nàng Diệu Thiện thì cương quyết không chịu lấy chồng, nhứt định phế trần đi tu để thành chánh quả.

Nghe con quyết định như thế, nhà vua nổi cơn thịnh nộ và buộc nàng phải tuân lịnh xuất giá. Nàng xin vua cha cho nàng kết hôn với một thầy thuốc, nói rằng: “Ý con là muốn cứu chữa hàng quan lại bất tài và ngu xuẩn, những tai nạn do sự nắng lửa mưa dầu, tuyết giá mà ra, những tính xấu xa ích kỷ về nhục dục, các tật nguyền, bịnh hoạn do sự già nua cằn cỗi mà ra, sự phân chia giai cấp, sự khinh rẻ kẻ nghèo và sự tư lợi.”

Nàng lại nói to lên rằng: “Chỉ có Đức Phật là được chứng quả bồ đề, minh tâm kiến tánh.” Nghe vậy, nhà vua càng tức giận thêm, bèn hạ lệnh lột hết áo quần của công chúa và nhốt nàng vào huê viên để bị đói lạnh mà chết. Công chúa không sờn lòng, cảm ơn vua cha đã phạt nàng như thế và chỉ vui tươi mà chịu khổ hình.

Những thử thách nơi chùa Bạch Tước

Các bà mệnh phụ được lệnh ra khuyên dụ nàng hồi tâm tuân ý thánh chỉ. Nàng khư khư một mực và nhứt định vào chùa Bạch Tước ẩn tu, nhập thất tham thiền. Chùa Bạch Tước thuộc quận Long Thọ, tỉnh Nhữ Châu. Nhà vua không cấm cản, đinh ninh rằng ra nơi ấy một ít lâu công chúa sẽ chán nản mà về triều.

Nơi Bạch Tước Tự, mật lệnh của nhà vua buộc nàng làm những công việc đê tiện, hèn hạ và mệt nhọc nhất. Nàng vẫn cúi đầu vâng chịu, không một tiếng than, vì khi nàng làm phận sự có những hùm beo, chim chóc và thần thánh giúp sức. Biết được thế, bà sư cụ chùa Bạch Tước mới cụ sớ về triều tâu vua mọi sự.

Cuộc thiêu chùa và sự hiển linh

Vua cha nghĩ ra một chước cốt làm nàng kinh khủng bỏ chùa mà về đền. Một bữa kia, quân lính đến bao vây và phóng lửa thiêu chùa bốn mặt. Sư cụ và tất cả ni cô kinh tâm tán đởm chạy ngược chạy xuôi. Tiếng kêu trời kêu đất inh ỏi! Nàng Diệu Thiện điềm tĩnh như thường, chỉ lâm râm cầu Đức Phật mà nàng nguyện theo gương và xin Ngài đến cứu nàng. Nàng rút trâm cài đầu đâm vào họng và phun máu tươi lên không trung, tức thì mây kéo mịt mù, thiên hôn địa ám, mưa xuống như cầm chĩnh mà đổ. Bị đám mưa to, các ngọn lửa đỏ ngất trời kia lần lần êm dịu rồi tắt.

Cái chết và cuộc hành trình xuống Diêm Cung

Nhà vua hạ lệnh bắt nàng và đưa về đền. Khi điệu nàng về tới, nhà vua dạy mở yến tiệc ca xang, bày một cuộc lễ hội thật lớn cốt để đem nàng trở lại quãng đời phong lưu khoái lạc. Nhưng các cuộc bài trí ấy cũng không hiệu quả gì và cho đến những điều hăm dọa ghép nàng vào tử hình cũng không thấm vào đâu.

Cùng thế, nhà vua hạ lệnh trảm quyết nàng và dạy ba quân điệu nàng khỏi đền mới hành hình. Thần hoàng bổn cảnh liền tấu sự ấy lên cho Ngọc Đế rõ. Đức Ngọc Đế hạ lệnh cho thần hoàng bổn cảnh giữ gìn hồn nàng đừng cho nhập địa phủ.

Sự Tích Quan Thế Âm Bồ Tát
Sự Tích Quan Thế Âm Bồ Tát

Khi điệu nàng về tới, nhà vua dạy mở yến tiệc ca xang, bày một cuộc lễ hội thật lớn cốt để đem nàng trở lại quãng đời phong lưu khoái lạc. Nhưng các cuộc bài trí ấy cũng không hiệu quả gì và cho đến những điều hăm dọa ghép nàng vào tử hình cũng không thấm vào đâu.

Cùng thế, nhà vua hạ lệnh trảm quyết nàng và dạy ba quân điệu nàng khỏi đền mới hành hình. Thần hoàng bổn cảnh liền tấu sự ấy lên cho Ngọc Đế rõ. Đức Ngọc Đế hạ lệnh cho thần hoàng bổn cảnh giữ gìn hồn nàng đừng cho nhập địa phủ.

Giờ hành hình đến, giám sát vừa giơ gươm lên thì gươm gãy làm hai. Giám sát bỏ gươm rút giáo toan đâm thì giáo lại tét làm hai. Giám sát chỉ còn một nước là xử giảo nàng (thắt cổ). Đến giờ hành hình thì có một trận cuồng phong thổi tới, làm cho trời đất tối tăm mà chung quanh mình nàng thì hào quang hiện ra sáng rỡ. Thần bổn cảnh liền hóa ra một con hổ, từ trong rừng xanh nhảy ra và cõng thây nàng chạy thẳng vô núi. Những kẻ đi xem hoảng chạy tứ tung. Quan quân và giám sát ảo não muôn phần, lật đật về triều tâu vua mọi sự.

Hành trình xuống Diêm Cung

Lúc ấy, nàng mơ màng như thấy một giấc chiêm bao, cơ hồ như nàng đã lướt gió tung mây… Khi tỉnh lại, nàng thấy mình ở vào một thế giới không nhật nguyệt, tinh tú, không núi non, không người, không loài vật.

Bỗng chốc, nàng thấy hiện ra trước mắt một vị thanh niên mặc áo màu xanh dương, hào quang chói rạng. Vị ấy đến trước mặt nàng, tay cầm một tờ giấy dài và nói rằng: Mình vưng lệnh Diêm Chúa (Yama) mời nàng xuống viếng Diêm Cung để thấy rõ ràng cảnh khốn khổ và những hình phạt mà kẻ có tội phải chịu sau khi chết.

Nơi Diêm Cung, mỗi khi nàng đi đến đâu, nhờ sức thần thông và đức từ bi thuyết kinh của nàng, các hồn bị giam cầm đều đặng cứu rỗi và thoát khỏi ngục môn hầu tái kiếp trở lại trần gian. Thập Điện Minh Vương cũng ao ước đặng nghe nàng thuyết pháp. Chiều ý Mười Vua, nhưng nàng xin rằng sau cuộc ấy các hồn tội nhân đều đặng phóng thích. Sau khi khoản ấy đã đặng các vua ưng thuận thì nàng mới dùng hết phép thần thông của nàng mà thuyết pháp. Trong nháy mắt, chốn U Minh biến thành lạc cảnh và các âm hồn đều đặng trở lại cõi trần.

Thấy mười cõi U đồ đã trống trơn, Thập Điện Minh Vương mới lật đật phán rằng: “Mười điện chúng ta không quyền giam cầm vong hồn nàng Diệu Thiện.” Và tức khắc dạy đưa nàng trở lại dương gian.

Cuộc tu hành nơi Phổ Đà Sơn

Khi tỉnh dậy, nàng Diệu Thiện lấy làm bối rối chưa biết phải đi phương nào. Lúc ấy, Đức Phật Thế Tôn hiện ra trên mây dạy nàng phải ra ở núi Phổ Đà, giữa Nam Hải thuộc cù lao Hương Đảo để tu thêm. Muốn đến đó phải trải qua ba ngàn dặm đường. Bởi thế, Đức Phật Thế Tôn mới ban cho nàng một trái bàn đào vườn Tây Vương Mẫu để nàng đỡ đói khát trong một năm và nhơn có đặng trường sanh. Nàng sắm sửa thượng trình. Đức Trường Canh Thái Bạch truyền cho thần bổn cảnh hóa ra con hổ, cõng đưa nàng ra nơi ấy.

Khi nàng tu đặng chín năm thì có một vị Phật Tiếp Dẫn đến cho các vị thần trấn Phổ Đà Sơn hay rằng nàng Diệu Thiện tu hành đạo pháp hiện nay cực kỳ cao siêu mà từ trước đến giờ chưa vị nào đạt được. Nàng đã đứng trên tất cả chư vị Bồ Tát và cai quản các đấng ấy. Hôm nay, ngày 19 tháng 02, chúng ta phải yêu cầu vị ấy nhận một địa vị cao thượng hơn để cứu rỗi và ban hạnh phúc cho quần sanh.

Sơn thần Phổ Đà Sơn bèn triệu tập tất cả các thần tiên, thánh phật vùng ấy đến chầu và xưng tụng công đức của vị Bồ Tát mới vừa chứng quả. Từ nay, người thường gọi là Quan Âm Như Lai, Quan Âm Nam Hải, Phật Tổ Phổ Đà Sơn. Tân Bồ Tát ngự trên tòa sen và tiếp kiến các đấng thiêng liêng đến bái kiến và khánh chúc.

Thiện Tài Đồng Tử và Long Nữ

Lúc ấy, chư thánh tiên mới định lựa một vị đồng tử để hầu Ngài. May đâu lúc ấy có một vị trẻ tuổi xưng là Hoàn Thiện Tài, nghĩa là người chỉ có đọc kinh mà đặng đức lành phép lạ. Thiện Tài đồng tử thú nhận rằng vì mồ côi cha mẹ, chàng mới phát nguyện tu hành quy y Phật pháp nhưng chưa chứng quả. Nay nghe tin Nam Hải Phổ Đà Sơn có Bồ Tát ngự nên quyết chí vượt qua mấy muôn dặm đến đây để hầu Ngài và xin làm đệ tử.

Trước khi ưng chuẩn lời nguyện ấy, Đức Bồ Tát muốn thử tâm chí coi ra sao, Ngài bèn truyền cho sơn thần, thổ địa hóa làm ăn cướp đến vây đánh Phổ Đà Sơn. Riêng về phần Ngài thì Ngài giả dạng sợ sệt, kêu la cầu cứu và giả té xuống hố sâu. Thấy vậy, Thiện Tài đồng tử chạy theo cứu thầy và nhảy luôn xuống hố. Vì quyền năng pháp lực chưa đặng cao cho nên đồng tử phải thiệt mạng. Bồ Tát liền dùng thần thông cứu tử. Khi đồng tử tỉnh dậy thì thấy một cái xác bên mình, Bồ Tát cho biết đó là xác phàm của đồng tử và hiện nay đồng tử đã bỏ xác phàm và nhập vào cõi thánh. Từ đó, Thiện Tài đồng tử một lòng phụng sự Bồ Tát trong sự cứu độ chúng sanh.

Sau đó, Đức Bồ Tát có thâu làm đệ tử nữ vị cháu gái của vua Nam Hải Long Vương tên là Long Nữ. Việc đã xảy ra như vầy. Ngày kia, đệ tam thái tử con vua Long Vương hóa làm con cá, dạo chơi trên mặt biển, chẳng may vướng phải lưới của ông chài. Ông chài bắt cá ấy đem bán ngoài chợ. Bồ Tát biết rõ việc ấy, bèn sai Thiện Tài Đồng tử giả dạng thường nhơn đến mua cá ấy đem ra biển phía Nam thả.

Nam Hải Long Vương nhớ ơn cứu tử con mình mới định dưng cho Bồ Tát một cục ngọc ban đêm chiếu sáng để giúp Ngài đọc sách không cần đèn, và dạy Long Nữ là con gái của đệ tam thái tử phải bổn thân đem ngọc đến dưng. Đến nơi dưng ngọc xong, Long Nữ rất cảm phục huyền năng và đức độ của Bồ Tát và cầu xin Ngài cho theo hầu Ngài cùng quy thuận Phật pháp. Bồ Tát ưng cho. Từ ấy, Long Nữ đặng thâu làm đệ tử hiệp cùng với đồng tử Thiện Tài mà phụng sự Ngài.

Sự Tích Bồ Tát Quán Thế Âm | Viện Chuyên Tu
Sự Tích Bồ Tát Quán Thế Âm | Viện Chuyên Tu

Sự báo ứng của vua Diệu Trang

Từ khi Diệu Trang Vương dùng chước độc mà hại nàng Diệu Thiện thì nhà vua phải một chứng bệnh hết sức khổ sở. Thân thể nhà vua phải thúi tha đầy ung thư ghẻ chốc làm cho nhà vua nhức nhối đau đớn vô hồi. Đức Bồ Tát phóng đại quang minh biết rõ mọi sự. Nhà vua hạ lệnh đăng bảng cầu danh y, Bồ Tát bèn giả dạng một nhà sư già đến xin chữa bịnh.

Khi đến trước mặt vua thì nhà sư tâu phải kiếm cho đặng đôi mắt và một đôi cánh tay của thân nhân nhà vua mới trị đặng bịnh, nhưng mà phải ra núi Phổ Đà mới kiếm đặng hai món ấy. Vua liền phái hai vị quan cấp tốc đến Phổ Đà Sơn để tìm hai món vừa nói. Hai vị phò mã rất bất bình và âm mưu định giết nhà sư và sau đó thí vua mà soán ngôi.

Bồ Tát rõ sự việc ấy và đã sai Thiện Tài đồng tử giả làm tên thị vệ hầu bên cạnh vua. Khi một tên quân của hai vị phò mã dưng cho vua một chén thuốc độc nói dối là của nhà sư dạy đem cho vua ngự thì tên thị vệ kia tiếp bưng chén ấy và sẵn tay làm đổ ngay xuống đất. Đang lúc ấy một người lẻn vào phòng nhà sư để thích khách. Bồ Tát bèn dùng thần thông làm cho tên ấy tê liệt không còn hoạt động nữa và bị bắt trói. Cơ mưu bại lộ, hai vị phò mã vì sợ bị khổ hình nên đã uống độc dược tự tử. Hai vị công chúa phải tội liên can đều bị biếm vào lãnh cung đời đời cấm cố. Hai nàng ăn năn, noi gương em mình là Diệu Thiện lo tu hành. Khi hai nàng đã tấn hóa nhiều về con đường tu niệm thì Bồ Tát và Thiện Tài đồng tử hóa ra hai thớt tượng bạch mà đưa hai vị công chúa đến cảnh Phật Đài để tránh xa mùi tục lụy.

Sự cảm hóa và hồi tâm

Từ ngày hai vị sứ giả phụng mệnh nhà vua, tuôn mây lướt sóng trải biết bao khổ cực mới đến Phổ Đà Sơn, Thiện Tài đồng tử phụng lịnh Bồ Tát hiện ra tiếp rước. Hai sứ giả trình bày mọi sự rồi được đến yết kiến Bồ Tát. Bồ Tát Diệu Thiện ngồi trên liên đài bèn trao cho hai vị sứ giả con mắt bên tả và cánh tay bên tả của mình. Việc xong, sứ giả cáo tạ rồi hồi trào, và dưng lên cho vua và hoàng hậu hai món đã kiếm đặng.

Hoàng hậu nhìn lên cánh tay tả thấy có nốt ruồi và sau khi nghe sứ giả tả dung mạo người đã cho nhà vua hai vật ấy thì quả quyết đó là con mình và đau đớn không ngần.

Nhà sư bèn trộn hai món ấy với ít vị thảo dược rồi đem tất cả đắp lên nửa thân bên trái của nhà vua thì nhà vua tức khắc khỏi đau phía bên mặt. Thấy thế, nhà sư tâu vua xin sứ giả ra Phổ Đà Sơn tìm cho đặng con mắt phía tay mặt và cánh tay mặt. Sứ giả vâng lệnh ra đi, không bao lâu đem về dưng đủ hai món. Nhà sư cũng làm y như trước thì nửa thân bên phải của nhà vua khỏi ngay. Từ ấy, vua Diệu Trang hoàn toàn lành bịnh.

Trong triều, ngoài quận ai ai cũng đồng biết rằng nhờ con chí hiếu là Diệu Thiện mà nhà vua mới khỏi bệnh ngặt nghèo.

Lìa bỏ trần tục, tìm về cõi Phật

Sau khi khỏi chết, vua cùng hoàng hậu cám ơn cứu tử, định ra Phổ Đà Sơn một chuyến để tạ ơn. Xa giá đăng trình gặp không biết bao là nguy nan, nhưng đều nhờ Bồ Tát dùng phép thần thông mà cứu khỏi.

Đến nơi, vua cùng hoàng hậu thấy Bồ Tát tọa thoàn trên liên đài mất cả hai mắt và hai tay. Nhìn biết là con mình, nhà vua ăn năn xúc động vô cùng bèn quỳ xuống cầu nguyện cho con đặng sống và đặng huờn y hai con mắt và hai tay. Khẩn nguyện xong thì nhà vua và hoàng hậu thấy con mình hiện trước mắt, tay mắt đủ, hình dạng mạnh khỏe như xưa.

Thấy phép thần thông vô biên của Bồ Tát, vua cùng hoàng hậu nhứt định lìa nơi điện ngọc đền vàng, lánh mình trần tục tìm đàng thiên thai.

Ý Nghĩa Sâu Sắc Của Những Câu Chuyện

Sự tích Phật Bà Quan Âm không chỉ là những câu chuyện kỳ ảo, mà còn là những bài học nhân sinh sâu sắc:

  • Lòng từ bi vô lượng: Dù trải qua bao nhiêu kiếp, bao nhiêu oan khuất, Quan Âm vẫn luôn giữ vững lòng từ bi, cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh.
  • Sự kiên trì và lòng hiếu thảo: Cả Thị Kính và Diệu Thiện đều là những con người kiên trì theo đuổi lý tưởng, dù phải chịu bao nhiêu thử thách, oan ức, nhưng cuối cùng vẫn giữ được tấm lòng hiếu thảo và trong sáng.
  • Sự giác ngộ từ đau khổ: Những đau khổ, oan ức mà ngài trải qua chính là những bài học để rèn luyện tâm tính, dẫn đến sự giác ngộ cao cả.
  • Sức mạnh của niềm tin: Niềm tin vào điều thiện, vào sự công bằng và vào con đường tu hành chính là sức mạnh giúp ngài vượt qua mọi nghịch cảnh.

Những câu chuyện về Phật Bà Quan Âm mãi mãi là nguồn cảm hứng cho những ai đang trên hành trình tìm kiếm sự bình an, hạnh phúc và giác ngộ trong cuộc sống. Qua những tích xưa, chuaphatanlongthanh.com hy vọng bạn đọc sẽ tìm thấy trong đó những bài học quý giá về lòng từ bi, sự kiên trì và ý nghĩa của việc sống vì người khác.

Cập Nhật Lúc Tháng 12 28, 2025 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *