Thiền Phật giáo – Nguyên Thủy và Phát Triển

Lời nói đầu

Giáo án nà y lúc đầu được biên soạn để giảng tại Học Viện Phật Giáo Thà nh Phố Hồ Chí Minh khóa 6 và lớp Đà o Tạo Phiên Dịch Hán Tạng tổ chức đặc biệt cho một số Tăng Ni họu đại học tại Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Sau đó được bổ sung thêm cho các lớp cử nhân Phật học khoá 7.

Trước khi nói đến thiền, chúng ta cần tìm hiểu hai khuynh hướng đang tồn tại trong Phật giáo, đó là khuynh hướng Nguyên Thủy và khuynh hướng Phát Triển.

Những người theo Phật giáo Nguyên Thủy có khuynh hướng bảo nguyên những lời dạy của chính đức Phật Gotama (Sakya Muni) trong suốt 45 năm hoằng hóa độ sinh. Những lời dạy nà y được kết tập lần đầu tiên tại Ấn Độ ba tháng sau đức Phật Niết-bà n cho đến lần thứ sáu tại Yangon, Myanmar, 2500 năm sau đức Phật Niết-bà n. Cả sáu lần kết tập ấy đều trùng tuyên báy bằng tiếng Pāḷi và không thêm bớt. Mặc dù từ lần kết tập thứ ba đã bắt đầu có thêm phần chú giải, rồi phụ chú và tiểu phụ chú, nhưng vẫn không xem là chánh tạng. Về sau Phật giáo Nguyên Thủy còn được gọi là Thượng Tọa Bộ vì phần lớn các vị trưởng lão theo khuynh hướng bảo nguyên.

Những người theo Phật giáo Phát Triển có khuynh hướng vận dụng rộng rãi giáo lý của đức Phật theo nguyên tác khế lý khế cơ, nghĩa là trên hợp với Phật lý, dưới ứng với căn cơ của các tầng lớp quân chúng khác nhau trong xã hội. Quá trình phát triển bao gồm ba giai đoạn:

  • Giai đoạn Tiểu Thừa, phát triển từ khoảng 200 năm (đánh dấu bằng lần kết tập NgÅ© Tạng Sanskrit), đến 600 năm sau đức Phật Niết-bà n. Tiểu Thừa phân thà nh 18 đến 25 phái, điển hình là Nhất Thiết Hữu Bộ. Hiện nay Tiểu Thừa không còn tồn tại, ngoại trừ còn lại một số kinh luận như năm bộ Kinh A-hà m (Agama), Cậu-xá Luận, Thà nh Thật Luận v.v…

  • Giai đoạn Đại Thừa, phát triển từ 600 năm đến 1100 năm sau đức Phật Niết-bà n, mở đầu là Má Minh. Đại Thừa cÅ©ng phân thà nh nhiều phái, điển hình là thập đại môn phái, như Mật Tông (Kim Cang Thừa), Tịnh Độ Tông, Tam Luận Tông, Hoa Nghiêm Tông, Pháp Hoa Tông… dá»±a trên những Kinh hoặc Luận do các vị Tổ biên soạn.

  • Giai đoạn Tối Thượng Thừa, tức Thiền Tông, phát triển từ 1100 năm sau đức Phật Niết-bà n cho đến ngà y nay. Sau đói Lục Tổ Huệ Năng, Thiền Tông Trung Hoa lại chia thà nh năm phái: Lâm Tế, Tà o Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, Qui Ngưỡng.

Hai khuynh hướng Nguyên Thủy và Phát Triển tuy có một và i quan điểm dị biệt về lý luận và biện pháp, nhưng những nguyên lý cốt lõi nhất mà đức Phật tuyên thuyết thì vẫn là nền töng chung của hai hệ phái.

Sự phân chia Phật giáo thà nh hai khuynh hướng hay hai hệ phái không phải là một khuyết điểm, thực ra đó chính là một ưu điểm của Đạo Phật. Nhờ có khuynh hướng Nguyên Thủy mà lời dạy của đức Phật đã được bảo tồn nguyên vẹn cho đến ngà y nay. Và nhờ có khuynh hướng Phát Triển mà Đạo Phật có thể vận dụng để đáp ứng nhiều căn cơ trình độ, nhiều xứ sở và nhiều thời đại khác nhau.

Bảo tồn và phát huy là hai yếu tố hỗ tương cần thiết, không thể thiếu một trong quá trình hoằng hóa độ sinh của Đạo Phật. Chính nhờ sự hỗ tương nà y mà chúng ta có thể rộng đường đối chiếu, so sánh để tìm ra cốt lõi chung của con đường giác ngộ giải thoát mà đức Phật đã khai thị.

Nỗ lực của chúng tôi là muốn chứng minh rằng tinh hoa, cốt lõi của Phật giáo vẫn là một dù hình thức bên ngoà i hay ngôn ngữ sử dụng đôi khi có vẻ không được hoà n toà n nhất quán giữa các tông phái. Những mâu thuẫn đối kháng chỉ phát xuất từ kiến giải chú quan thiên lệch của mỗi cá nhân hơn là sự bất đồng giáo lý.

Những điều chúng tôi trình bà y trong tập sách nà y chỉ là những nhận xét khái quát từ sự nghiên cứu, học hỏi và chiêm nghiệm cá nhân hơn là một sự đối chiếu có tính văn học trên qui mô kinh luận và các nguyên tải. Vì vậy, đây chỉ là một số gợi ý để những người sau bổ khuyết và triển khai thà nh một công trình đối chiếu qui mô hơn.

Thiền Phật Giáo - Nguyên Thủy Và Phát Triển
Thiền Phật Giáo – Nguyên Thủy Và Phát Triển

Có những trích dẫn trong tạp sách nà y dá»±a và o trí nhớ hÆ¡n là tham khảo lại kinh sách nên phần lớn thiếu xuất xứ và đôi khi chỉ cốt lấy ý chứ không đúng nguyên văn trong các nguyên tác, kính mong được sá»± góp ý bổ khuyết.

Trân trọng
Tỳ Kheo Viên Minh

Dẫn nhập

Thiền (Trung Quốc) và Zen (Nhật Bản) có nguồn gốc phiên âm từ Jhāna trong văn học Pāḷi Phật Giáo Nguyên Thủy, hay Dhyāna trong ngôn ngữ Sanskrit Phật Giáo Phát Triển, nhưng về sau các tông phái sử dụng từ thiền với nhiều ý nghĩa khác nhau và thay đổi tùy thời.

Trong Thiền Tông Đông Độ thiền là kiến tánh chứ không phải tịnh và định, nhưng trong văn học Pāḷi, Phật giáo Nguyên Thủy, Jhāna lại dùng để chỉ tịnh hay cận hà nh (upacāra) như niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng… và định hay an chỉ (appanā) để gọi những trạng thái thiền chứng theo nội dung các thiền chi như đệ nhất thiền (paṭṭhamajjhāna), đệ nhị thiền (dutiyajjhāna), đệ tam thiền (tatiyajjhāna), và đệ tứ thiền (catutthajjhāna) trong các bậc định thuộc sắc giới thiền (rūpajjhāna). Về sau Jhāna còn dùng để gọi vô sắc giới thiền (arūpajjhāna), tựu trung vẫn là thiền định. Từ Pāḷi bhāvanā (tu tập, thực hà nh, tiến hà nh) được dùng cho cả thiền định hay thiền chỉ (samatha bhāvanā) lẫn thiền tuệ hay thiền quán (vipassanā bhāvanā).

Đối với Tịnh Độ Tông thiền là niệm Phật A-Di-Đà và Mật Tông thiền là trì chú v.v… cho nên, ngà y nay nói tới thiền chúng ta cần phải xác định đó là loại thiền gì, thuộc tông phái nà o thì mới không lầm lẫn nội dung mà từ thiền ấy được sá»­ dụng.

Để có thể so sánh tính chất đồng dị giữa thiền nguyên thủy và thiền phát triển, chúng ta cần tìm hiểu và phân biệt từng loại thiền của cả hai hệ thống nói trên.

1) Thiền định trong Phật Giáo Nguyên Thủy.

2) Thiền tuệ trong Phật Giáo Nguyên Thủy.

3) So sánh thiền nguyên thủy và một số pháp môn thiền phát triển tiêu biểu theo Giáo Tông:

3.1. Lục Diệu Pháp Môn

3.2. Đối chiếu Lục Diệu Pháp Môn với thiền Ànà pà nassati

3.3. Đối chiếu thiền Nhĩ Căn Viên Thông với thiền Nguyên Thủy

4) So sánh Thiền Vipassanā và Thiền Tông Đông Độ.

I) Thiền Định trong Phật Giáo Nguyên Thủy

I.1) ĐỊNH NGHĨA:

Thiền định (samādhi) hay thiền chỉ (samatha bhāvanā) có múc đích chế ngừi 5 chướng ngại của định gọi là triền cái (nīvaraṇa) và là m cho tâm an trú, thuộc ba chi định phần trong Bắt Thánh Đạo (AṭṭhaṠgik’ ariya magga) tương ứng với ba mức độ định khác nhau:

a) Chánh tinh tấn (sammā vāyāmo): An trú nhờ các gắng giữ nhất tâm trên đối tượng sơ tướng (parikamma nimitta) và thô tướng (uggha nimitta). An trú nà y gọi là chuẩn bị định (parikamma samādhi).

b) Chánh niệm (sammā sati): An trú nhờ duy trì nhất tâm trên đối tượng quang tướng (paṭibhāga nimitta). An trú nà y gọi là cận hà nh định (upacāra samādhi) hay tịnh thuộc dục giới định.

c) Chánh định (sammā samādhi): An trú nhờ nhất tâm bất động trên đối tượng quang tướng (paṭibhāga nimitta). An trú nà y được gọi là an chỉ định (appanā samādhi) hay định sắc giới và định vô sắc giới.

Thiền Phật Giáo - Nguyên Thủy Và Phát Triển
Thiền Phật Giáo – Nguyên Thủy Và Phát Triển

Sơ tướng: là hiện vật được tạo ra hay có sẵn trong thiên nhiên được hình giả dùng là m đối tượng thiền định. Ví dụ như một hình tròn mà u xanh (được tạo ra) hay ngón lá xanh (thiên nhiên) mà hình giả dùng để tập chú với mục đích định tâm.

Thô tướng: sau khi tập chú với tượng đủ mạnh để sao chép sơ tướng thà nh hình ảnh tương tự bên trong gọi là thô tướng hay tợ tướng, bên ngoà i lúc bắt đầu bỏ sơ tướng bên ngoà i để tập chú và o thô tướng bên trong.

Quang tướng: nếu chú tâm trên thô tướng đúng mức tưởng nà y sẽ phát ra ánh sáng nên được gọi là quang tướng. Quang tướng là sắc do tưởng sinh, vì vậy, thiền lấy sắc tướng nà y là m đối tượng để đạt được an chỉ định được gọi là thiền sắc giới hay thiền hữu sắc.

I.2) ĐỐI TƯỢNG thiền định (kammaṭṭhāna):

Có 40 đối tượng là m công án hay đề mục thiền định:

1) 10 đề mục hình tròn (kasiṇa): Đất, nước, lửa, gió, xanh, và ng, đỏ, trắng, ánh sáng, hư không.

2) 10 đề mục tùy niệm (anussati): Phật, Pháp, Tăng, giới, thí, thiên, sự chết, 32 thể trưởc, tích tịnh, hơi thở.

3) 10 đề mục tử thi bất tịnh (asubha): Tử thi mới chết, tử thi bầm tím, tử thi chảy máu, tử thi chảy mủ, tử thi bị đâm thúng, tử thi có giòi, tử thi bị chặt đứt đoạn, tử thi bị cát, tử thi rời rạc, tử thi chỉ còn xương.

4) 4 đề mục tâm vô lượng (appamaññā): Tâm từ vô lượng, tâm bi vô lượng, tâm hỷ vô lượng và tâm xả vô lượng.

5) 1 đề mục quán vật thực bất tịnh.

6) 1 đề mục phân tích tứ đại: Đất, nước, lửa, gió.

7) 4 đề mục thiền vô sắc:

  • “Hư không là vô biên” (ākāso ananto): tưởng không nà y là m đối tượng cá»§a thiền hư không vô biên xứ (ākāsānañcāyatana).

  • “Thức là vô biên” (viññāṇaṃ anantaṃ): tưởng không nà y là m đối tượng cá»§a thiền thức vô biên xứ (viññāṇānañcāyatana).

  • “Vô sở hữu” hay “không có gì cả” (natthi kiñci): tưởng không nà y là m đối tượng cá»§a thiền vô sở hữu xứ (ākiñcaññāyatana).

  • “Vắng lặng, vi tế” (santaṃ, paá¹­itaṃ): tưởng không nà y là m đối tượng cá»§a thiền phi tưởng phi phi tưởng xứ (nevasaññānāsaññāyatana).

I.3) TÁNH ĐỊNH HÀNH GIẢ (carita):

Hà nh giả hà nh thiền định có 6 loại tánh:

1

Cập Nhật Lúc Tháng 12 13, 2025 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *