Tượng Phật Quan Âm Nam Hải chùa Hội Hạ không chỉ là một pho tượng gỗ cổ quý giá, mà còn là một kiệt tác nghệ thuật hội tụ đầy đủ giá trị lịch sử, thẩm mỹ và tâm linh. Được phát hiện vào năm 1965 trong một ngôi chùa đổ nát, tượng Quan Âm đã trải qua biết bao biến cố lịch sử, từ những lần di dời tránh chiến tranh cho đến khi được công nhận là Bảo vật Quốc gia vào năm 2013. Với chiều cao hơn 3 mét, 42 cánh tay cầm pháp khí, cùng tạo hình độc đáo gắn liền với điển tích Quan Âm Nam Hải, pho tượng là minh chứng hùng hồn cho tài hoa và trình độ điêu khắc gỗ đỉnh cao của người Việt cách đây gần 500 năm.
Hành trình 500 năm: Từ ngôi chùa đổ nát đến Bảo vật Quốc gia
Cuộc “cứu rỗi” giữa mùa hè năm 1965
Mùa hè năm 1965, giữa cái nắng gay gắt trên những con đường đất gồ ghề thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, chàng sinh viên Nguyễn Đỗ Bảo, khi đó mới 25 tuổi, đang thực hiện nhiệm vụ sưu tầm hiện vật cho Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ. Đang trên chiếc xe đạp cũ kỹ, ông Bảo dừng chân nghỉ ngơi tại sân kho của hợp tác xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương. Chính tại đây, một người xã viên đã tình cờ chỉ cho ông một ngôi chùa dột nát, mái ngói lụp xụp, tường mốc phủ rêu – ngôi chùa Hội Hạ. Người này cho biết hợp tác xã đang định dỡ chùa để làm sân kho và hỏi ông Bảo có muốn nhận bức tượng Phật lớn trong chùa không.
Câu chuyện tưởng chừng như đơn giản ấy lại là khởi đầu cho một hành trình giải cứu đầy gian nan và kỳ diệu. Khi bước vào chùa, ông Bảo nhìn thấy một không gian tĩnh lặng, ánh sáng yếu ớt lọt qua những lỗ hổng trên mái, những bức tượng bám đầy bụi và mạng nhện. Nhưng ngay lập tức, ánh mắt ông đã bị cuốn hút bởi một pho tượng sơn son thếp vàng – tượng Phật Quan Âm Nam Hải.
Hành trình về với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Sự nhạy bén và kinh nghiệm của một chuyên gia nghệ thuật đã giúp ông Bảo nhanh chóng nhận ra đây là một bức tượng gỗ cổ, hiếm gặp. Với chiều cao hơn 3 mét, tượng Phật Quan Âm Nam Hải chùa Hội Hạ là một trong những bức tượng gỗ cổ nhất Việt Nam. Không ngần ngại, ông Bảo dùng chiếc máy quay phim đen trắng chụp một số tấm ảnh để mang về báo cáo.
Sau khi nhận được báo cáo, một cuộc họp của các nhà nghiên cứu đã nhanh chóng được tổ chức. Dựa vào các hoa văn mây, rồng và độ lớn của tượng, các nhà nghiên cứu nhận định, bức tượng được tạo nên trong khoảng thời gian nhà Mạc (1527 – 1592), như vậy tượng Quan Âm tại chùa Hội Hạ đã được chế tác gần 500 năm. Đây là một giai đoạn nghệ thuật điêu khắc hưng thịnh nhất, sau những năm nhà Minh sang xâm lược, phá tượng, đập bia, đốt chùa thế kỷ 14, 15.
Viện trưởng Viện Mỹ thuật – Mỹ nghệ khi đó là họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung trực tiếp xuống làm việc với chính quyền xã Hợp Thịnh để xin tượng quý về trưng bày. Sau này, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam – nơi lưu giữ, trưng bày bức tượng đã tài trợ tiền để địa phương xây chùa mới, đồng thời làm tặng một phiên bản tượng Quan Âm.
Những lần di dời để bảo tồn

Có thể bạn quan tâm: Hướng Dẫn Chọn Mua Và Bài Trí Tượng Phật Quan Âm Mini Cho Không Gian Sống
Tuy nhiên, số phận tượng quý vẫn chưa hết truân chuyên. Trong những năm 1975, 1979, để tránh nguy cơ bị phá hủy trong chiến tranh, bức tượng còn bị tách rời và di chuyển thêm 2 lần để sơ tán ở Tuyên Quang và Đà Lạt. May mắn thay, nhờ những giá trị lịch sử và nghệ thuật to lớn, tượng Quan âm chùa Hội Hạ đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận là Bảo vật quốc gia ngày 30/12/2013.
Tạo hình kỳ công: Kiệt tác của nghệ thuật điêu khắc gỗ Việt Nam
Nghệ thuật chế tác độc đáo
Bức tượng Quan Âm Nam Hải chùa Hội Hạ được tạo nên bởi những nghệ nhân tài hoa, có thể là những người thợ nông thôn thời đó. Trong lịch sử phát triển của mỹ thuật Việt Nam, những nhóm thợ chuyên nghề tạc tượng thường đi hết chùa này tới chùa khác. Để có thể hoàn thành được những bức tượng cầu kỳ và tinh xảo như vậy, những người thợ này phải ăn ở tại chùa cả tháng tới năm trời.
Việc làm tượng ngay tại chùa còn ẩn chứa nhiều nghi thức huyền bí như nghi lễ yểm tâm, hô thần nhập tượng, điểm nhỡn. Giữa các nhóm thợ có sự giao lưu với nhau, trong đó thợ cả là người có nhiều kiến thức, nắm được tinh thần nghệ thuật của giai đoạn. Bức tượng được chia là 3 phần chính gồm: thân tượng gắn với 42 cánh tay, đài sen và bệ đa giác. Phần thân còn có hai pho tượng Kim Đồng và Ngọc nữ nhỏ.

Có thể bạn quan tâm: Tượng Phật Quan Âm Lớn Nhất Đà Lạt: Khám Phá Địa Danh Tâm Linh Hấp Dẫn
Tỷ lệ “vàng” trong nghệ thuật điêu khắc
Một điểm đáng tự hào nữa về bức tượng Quan Âm tại chùa Hội Hạ là theo nhiều nhà nghiên cứu, kinh nghiệm tạc tượng của người Việt xưa khá tương đồng với tỷ lệ vàng của phương Tây trong mối liên hệ giữa chiều cao và các bộ phận trên cơ thể của bức tượng. Tỷ lệ này được Marcus Vitruvius Pollio viết trong cuốn thứ 3 của De Architectura, trong đó ông khẳng định rằng một công trình kiến trúc muốn đẹp thì phải có tỉ lệ và sự đối xứng, và chúng có thể được tìm thấy thông qua giới tự nhiên.
Vitruvius cũng đưa ra các tỉ lệ và tương quan giữa các phần của cơ thể, ví dụ: “Chiều dài bàn chân bằng 1/6 chiều dài của phần thân. Chiều dài cẳng tay là 1/4. Chiều ngang của ngực là 1/4…”. Sau này, danh họa Leonardo Da Vinci đã nghiên cứu lại thành quả của Marcus Vitruvius Pollio, áp dụng cho các tác phẩm điêu khắc và hội hoạ của ông thời Phục hưng (thế kỷ 15).
Sự trùng hợp kỳ diệu này cho thấy trình độ điêu khắc gỗ của người Việt hàng trăm năm trước đã đạt đến đỉnh cao, không thua kém gì nghệ thuật phương Tây. Bức tượng Quan Âm Nam Hải chùa Hội Hạ là một minh chứng hùng hồn cho điều đó.
Khác biệt tạo nên sự độc bản
Bức tượng Quan Âm tại chùa Hội Hạ có được một tạo hình vô cùng khỏe khắn, hình ảnh quỷ Ô Ba Na Đà nhô lên khỏi mặt nước, đỡ bệ sen gắn liền với điển tích Quan Âm Nam Hải. “Tạo hình phần thân tượng là những khối vuông vức, bờ vai ngang khác hẳn với các tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn về sau. Riêng lối tạo hình đã khiến bức tượng thành hiện vật độc bản ngày nay”, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung đã nhận xét như vậy về bức tượng.
Huyền tích Quan Âm Nam Hải: Truyền thuyết ngàn tay ngàn mắt

Có thể bạn quan tâm: Tượng Phật Quan Âm Lớn Nhất Thế Giới: Hành Trình Tìm Đến Những Kỳ Quan Tôn Giáo
Kiệt tác 42 cánh tay và pháp khí
Tượng Quan Âm Nam Hải chùa Hội Hạ nổi bật với 42 cánh tay cầm pháp khí tỏa sang hai bên đầy tinh tế. Gương mặt Phật Quan Âm trên bức tượng tròn đầy, phúc hậu, giống như hình tượng điển hình của người phụ nữ Việt Nam tạo nên sự gần gũi. Những bắp tay căng tròn, những bàn tay với ngón tay mềm, mũm mĩm, duyên dáng đang vươn ra tựa bông cúc đại đóa đang chuẩn bị bung nở.
Trong số 42 tay, đôi tay chính chắp trước ngực ở thế liên hoa hợp chưởng, hai tay đặt dưới lòng kết thủ ấn Thượng phẩm thượng sanh. Mỗi bên vai 19 cánh tay tỏa sang hai bên, xòe mở, mỗi tay tượng đều cầm pháp khí. Có thể nhận thấy một số pháp khí như: Sổ châu thủ; nguyệt tinh ma ni thủ; ngũ sắc vân thủ; bảo kiếp thủ; bảo bát thủ; cô lâu trượng thủ; bảo kiếm thủ; ngọc hoàn thủ; bàng bi thủ; quyến sách thủ; Thí vô úy thủ; cung điện thủ; như ý bảo châu thủ; bảo luân thủ; nhật tinh ma ni thủ; bảo kinh thủ; bảo loa thủ; quân trì thủ; bảo kính thủ… Nhiều pháp khí đến nay không còn nhưng ta vẫn có thể bổ sung khi đối chiếu Tứ thập nhị thủ nhãn đồ của chú Đại Bi.
Truyền thuyết công chúa Diệu Thiện
Theo huyền sử Tàu thì Diệu Thiện là con gái thứ ba của vua Diệu Trang, một tiểu quốc cận biên Ấn Độ. Khác với hai người chị là Diệu Âm và Diệu Thanh lập gia thất, Diệu Thiện muốn xuất gia quy Phật. Sau nhiều lần cản ngăn và trừng phạt không thành, vua thuận cho Diệu Thiện vào chùa, nhưng mật cho các sư ni hành hạ cho Diệu Thiện nản chí mà quay về.

Có thể bạn quan tâm: Tượng Phật Quan Âm Bằng Gỗ Hương Có Ý Nghĩa Gì Và Cách Chọn Mua Chuẩn Phong Thủy?
Ni trưởng chùa Bạch Tước báo cáo về triều là công chúa Diệu Thiện vẫn cam chịu được mọi khó nhọc, một lòng quyết chú tu hành. Nổi giận, vua sai đốt chùa, bắt công chúa về lại triều rồi xử trảm. Nhiều hình phạt đều bất thành vì được Ngọc Đế sai Thần hoàng bổn cảnh hóa thân cọp cỏng nàng chạy để bảo vệ nàng. Trong lúc hồn liền khỏi xác, được Diêm vương đưa nàng đi thăm các cửa ngục hành hình tội nhân.
Do uy lực của Diệu Thiện mà các tội nhân được siêu thoát; Diêm vương được lệnh nghinh tiển hồn Diệu Thiện trở lại dương thế. Tỉnh lại, Diệu Thiện hoang mang không biết đi về đâu, thì được đức Phật khuyên hãy đến núi Phổ Đà ở cù lao Hương đảo Nam Hải tiếp tục tu luyện. Sau 9 năm, Ngài đắc đạo, từ đó được hồng danh là Quan Âm Nam Hải.
Ý nghĩa sâu sắc của hình tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn
Phật bà Quan Âm 42 tay chính là sự hiện hình Thiên Thủ Thiên Nhãn. Huyền tích về Đức Quan Âm Diệu Thiện vì cắt tay, móc mắt chữa bệnh cho cha mà sau hiện hóa ngàn tay ngàn mắt. Thể hiện cho lòng từ bi, quảng độ.
Việc tạo tượng với 42 thủ nhãn ấn pháp thể hiện diệu dụng của chú Đại Bi. Đức Quan Âm, ngài phát nguyện sinh ngàn tay ngàn mắt, có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sinh với thần chú (Đại Bi). Bồ Tát Quan Thế Âm vì muốn cho chúng sinh được an vui, được trừ tất cả các bệnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả các nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được tăng trưởng công đức của pháp lành, được thành tựu tất cả các thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu mà nói ra thần chú này.
Ở Việt Nam, sự tích Quan Âm Nam Hải lưu truyền trong dân gian gắn liền với câu chuyện công chúa Diệu Thiện. Chân như đạo Phật rất mầu/ Tâm trung chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân. Hiếu là độ được song thân/ Nhân là cứu độ trầm luân muôn loài. Thần thông ngàn mắt ngàn tay/ Cũng trong một điểm linh đài hóa ra. Này trong bể nước Nam ta/ Phổ môn có đức Phật Bà Quan Âm. Niệm ngài thường niệm tại tâm/ Dẫn xem sự tích ca ngâm cho tường…
Giá trị văn hóa tâm linh: Biểu tượng của lòng từ bi và khát vọng hòa bình
Quan Âm Nam Hải – Người bảo hộ cho người đi biển
Hình ảnh quỷ Ô Ba Na Đà nhô lên khỏi mặt nước, đỡ bệ sen gắn liền với điển tích Quan Âm Nam Hải. Quan Âm Nam Hải được những người đi biển thờ cúng là sự thể hiện một cách cụ thể của một trong nhiều chức năng cứu khổ cứu nạn khác nhau của vị Bồ-tát này, như câu:
“Gió đông đi biển chìm thuyền/ Niệm danh Bồ-tát sóng tan hết liền”.
Với người dân Việt Nam, đặc biệt là những ngư dân, Quan Âm Nam Hải là vị thần bảo hộ, che chở cho những chuyến ra khơi được bình an, thuận buồm xuôi gió. Ở Việt Nam, Quan Âm Nam Hải được thờ cúng ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các vùng ven biển, các làng chài, các đền chùa ven biển.
Sự hiện diện xuyên suốt trong đời sống tâm linh người Việt
Bảo vật quốc gia Tượng Quan Âm Nam Hải chùa Hội Hạ đã chứng kiến nhiều đổi thay của dòng lịch sử Việt Nam xuyên suốt 5 thế kỷ. Hình tượng Quan Âm luôn thể hiện được khát khao hòa bình, hạnh phúc cùng những giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc.
Dù ở bất cứ thời đại nào và trải qua bao nhiêu biến cố thì hình tượng Quan Âm vẫn luôn tồn tại và được nghệ nhân gửi gắm những giá trị cốt lõi về đức đạo trong đời từ ngàn đời nay trong đời sống tâm kinh của người Việt. Hình tượng Quan Âm không chỉ là một biểu tượng tôn giáo mà còn là một biểu tượng văn hóa, một phần không thể tách rời trong đời sống tinh thần của người Việt.
Giá trị nghệ thuật vượt thời gian
Tượng Quan Âm Nam Hải chùa Hội Hạ là một minh chứng hùng hồn cho tài năng và trình độ điêu khắc gỗ đỉnh cao của người Việt cách đây gần 500 năm. Những giá trị nghệ thuật của bức tượng không chỉ nằm ở kỹ thuật điêu khắc tinh xảo, mà còn nằm ở sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật và tâm linh, giữa cái đẹp và cái thiện.
Bức tượng không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà còn là một biểu tượng của lòng từ bi, của khát khao hòa bình và hạnh phúc. Đó là lý do vì sao bức tượng Quan Âm Nam Hải chùa Hội Hạ đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia, trở thành một phần quan trọng trong di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam.
chuaphatanlongthanh.com – Nơi lưu giữ và chia sẻ những giá trị văn hóa, lịch sử và nghệ thuật của dân tộc Việt Nam.
Cập Nhật Lúc Tháng 12 27, 2025 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân
