Lịch sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bằng tranh: Hành trình giác ngộ và hoằng pháp

Lịch sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bằng tranh không chỉ là một câu chuyện tôn giáo mà còn là một bản hùng ca về hành trình từ một hoàng tử sống trong nhung lụa đến vị thầy giác ngộ của nhân loại. Cuộc đời của đức Phật Thích Ca – một bậc thầy của chư thiên và loài người, không chỉ được nói đến trong kinh điển mà còn được các hậu thế sau này thể hiện dưới nhiều hình thức nghệ thuật như phim ảnh, nhạc, điêu khắc, hội họa… Mỗi bức tranh là một dấu mốc, một bài học sâu sắc về lòng từ bi, trí tuệ và con đường giải thoát khỏi khổ đau. Bài viết này sẽ tổng hợp lại toàn bộ lịch sử Đức Phật Thích Ca bằng tranh một cách chi tiết, dễ hiểu, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về cuộc đời vĩ đại của ngài.

Tóm tắt hành trình giác ngộ

Dưới đây là bản tóm tắt nhanh về hành trình giác ngộ của đức Phật Thích Ca Mâu Ni:

  1. Bồ tát Hộ Minh giáng trần: Các vị chư thiên thỉnh cầu Bồ tát tái thế để giáo hóa chúng sinh. Ngài hiện về trong giấc mộng của Hoàng hậu Ma Da.
  2. Đản sanh tại vườn Lâm Tỳ Ni: Thái tử Tất Đạt Đa ra đời, đi bảy bước, mỗi bước nở sen, tự khẳng định sứ mệnh cao cả.
  3. Tuổi thơ và thời niên thiếu: Sống trong cung điện, thông minh, sức mạnh phi thường, giỏi văn võ.
  4. Hôn nhân và cuộc sống cung đình: Kết hôn cùng công chúa Da Du Đà La, tận hưởng vinh hoa nhưng nội tâm trăn trở.
  5. Tứ môn du quan (Tứ Môn Xuất Gia): Chứng kiến cảnh già, bệnh, chết và vị tu sĩ, ngài nhận ra bản chất vô thường của cuộc đời.
  6. Xuất gia tìm đạo: Bỏ lại vinh hoa phú quý, rời cung vào đêm khuya để tìm con đường giải thoát.
  7. Tìm thầy học đạo và tu khổ hạnh: Học hỏi các vị thầy lỗi lạc, sau đó thực hành khổ hạnh 6 năm.
  8. Thọ nhận cháo sữa và phát hiện Trung đạo: Nhận thức được con đường ép xác không dẫn đến giải thoát.
  9. Thệ nguyện dưới cội Bồ đề: Tọa thiền dưới cây Bồ Đề, thề không thành đạo quả决不 đứng dậy.
  10. Chinh phục ma quân: Đối mặt và chiến thắng những cám dỗ, sợ hãi cuối cùng.
  11. Thành đạo: Đêm trăng tròn tháng tư, ngài chứng ngộ hoàn toàn, trở thành bậc Chánh đẳng, Chánh giác.
  12. Chuyển pháp luân: Bắt đầu sứ mệnh hoằng pháp độ sinh, giảng dạy Tứ Diệu Đế.
  13. 45 năm hoằng pháp: Du hóa khắp nơi, giáo hóa mọi tầng lớp, từ vua chúa đến nô lệ.
  14. Nhập Niết Bàn tại Câu Thi Na: Lúc tròn 80 tuổi, công đức viên mãn, ngài nhập diệt trong chánh niệm.

Hành trình giác ngộ: Từ Bồ tát đến vị Phật toàn giác

Bồ tát Hộ Minh giáng trần

Trước khi giáng sinh, Bồ tát Hộ Minh đang sống an lạc trên cõi trời Đâu Suất. Tại đó, ngài nhìn thấy cõi Ta Bà đầy khổ đau, chúng sinh chìm trong si mê, không lối thoát. Đấng Phạm Thiên, Tứ Thiên Vương và các chư thiên ở cung trời Đâu Suất đồng lòng thỉnh nguyện Bồ tát tái thế để giáo hóa và cứu độ chúng sinh.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Để chuẩn bị cho sự giáng sinh, Bồ tát chọn hoàng hậu Ma Da (Maha Maya) của vua Tịnh Phạn làm mẫu thân. Một đêm nọ, hoàng hậu Ma Da nằm mộng thấy một con bạch tượng rất lớn từ ngọn núi vàng bay đến, ngậm trên vòi một đóa sen trắng và từ từ đi vào bên hông phải của bà. Giấc mộng kỳ diệu này báo hiệu sự kiện trọng đại sắp xảy ra. Các vị chiêm tinh gia và đạo sư đều khẳng định hoàng hậu sẽ sinh được một vị thái tử phi phàm. Nếu ngài xuất gia sẽ thành vị Phật, nếu làm vua sẽ thành Chuyển Luân Thánh Vương.

Đản sanh tại vườn Lâm Tỳ Ni

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Tranhcuộc Đời Của Đức Phật Thích Ca - Một Bậc Thầy Của Chư Thiên Và Loài Người, Không Chỉ Được Nói Đến Trong Kinh Điển Còn Được Các Hậu Thế Sau Này Thể Hiện Dưới Nhiều Hình Thức Nghệ Thuật Như Phim Ảnh, Nhạc, Điêu Khắc, Hội Họa..vv
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Tranhcuộc Đời Của Đức Phật Thích Ca – Một Bậc Thầy Của Chư Thiên Và Loài Người, Không Chỉ Được Nói Đến Trong Kinh Điển Còn Được Các Hậu Thế Sau Này Thể Hiện Dưới Nhiều Hình Thức Nghệ Thuật Như Phim Ảnh, Nhạc, Điêu Khắc, Hội Họa..vv

Vào ngày mồng 8 tháng 4 năm 624 TCN, hoàng hậu Ma Da theo phong tục về nhà ngoại để sinh con. Trên đường đi, khi ngang qua khu vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini), hoàng hậu cảm thấy sắp đến giờ sinh. Bà dừng lại dưới một gốc cây Vô Ưu đang trổ hoa rực rỡ.

Theo truyền thuyết, khi hoàng hậu nắm cành cây để tựa vào, thái tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha) đã từ hông phải của bà thị hiện ra. Ngài không phải là một đứa trẻ bình thường, mà là một vị Bồ tát đầy oai lực. Khi vừa sinh ra, ngài đã bước đi bảy bước, mỗi bước chân đều có một đóa sen bảy báu mọc lên đỡ gót chân. Một tay Ngài chỉ trời, một tay chỉ đất và dõng dạc tuyên bố: “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn. Tất cả chúng sinh đều có khả năng giác ngộ như ta”.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Sau khi sinh thái tử, hoàng hậu Ma Da từ trần khi mới 35 tuổi, do đó, thái tử được giao cho người dì ruột là Ma Ha Ba Xà Bà Đề (Maha Pajapati Gotami) nuôi dưỡng. Bà yêu thương thái tử như con ruột của mình.

Tuổi thơ và thời niên thiếu trong cung điện

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Vua Tịnh Phạn hết sức đau buồn vì sự ra đi của hoàng hậu, nhưng niềm vui có người nối dõi cũng phần nào an ủi lòng vua. Ngài triệu tập các vị đạo sư, chiêm tinh gia về cung để xem tướng cho thái tử. Mọi người đều nhất trí rằng thái tử có đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, tương lai sẽ là một vị Phật vĩ đại.

Một hôm có vị đạo sư tên là A Tư Đà (Asita), một vị chân tu ẩn dật từ núi Hy Mã Lạp Sơn (Hymalaya), đến yết kiến vua để chúc mừng. Ngài A Tư Đà xem tướng xong, nước mắt giàn giụa. Vua Tịnh Phạn vô cùng lo lắng, hỏi dồn về nguyên nhân. A Tư Đà thưa rằng: “Thái tử có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, sau này nhất định sẽ trở thành bậc Chánh đẳng, Chánh giác. Tôi khóc là vì khi đó tôi đã chết rồi, không có cơ hội được nghe pháp của ngài nên tôi tiếc nuối vô cùng”.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Sợ rằng thái tử sẽ xuất gia, vua cha đã dùng mọi cách để giữ chân ngài trong cung. Ngài cho xây dựng ba cung điện nguy nga tráng lệ: một cung cho mùa xuân, một cung cho mùa hè, một cung cho mùa đông. Trong các cung điện này, thái tử được cung cấp mọi thứ xa hoa, hưởng lạc nhất, không bao giờ phải chứng kiến cảnh khổ đau, bệnh tật, già nua hay chết chóc. Mục đích của vua cha là để thái tử quen với cuộc sống an nhàn, không muốn rời xa.

Tuy nhiên, bản chất của thái tử Tất Đạt Đa là một người trầm tư, hay tìm những nơi thanh tịnh để thiền định. Một hôm trong ngày lễ Hạ Điền, ngài đi theo đoàn người ra đồng. Ngài chứng kiến cảnh người nông dân dùng roi đánh con trâu đang nặng nhọc kéo cày. Lưỡi cày xới tung đất lên, cuốn theo những con trùng, có con bị nắng thiêu đốt, có con bị lưỡi cày cắt thành nhiều đoạn đang quằn quại. Lại có những con chim nhỏ bay xuống ngoạm lấy những con trùng đó, rồi lại có những con chim lớn hơn đuổi bắt những con chim nhỏ. Trước cảnh tượng “cắn xé” nhau này, tâm hồn thái tử cảm thấy vô cùng buồn bã. Ngài nhận ra rằng khổ đau là bản chất của đời sống. Ngài bèn ra một gốc cây to để ngồi thiền định, tìm kiếm sự an lạc trong tâm hồn.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Học tập văn võ và lập gia đình

Thái tử Tất Đạt Đa được nuôi dạy rất chu đáo. Ngài thông minh tuyệt đỉnh, chỉ trong thời gian ngắn đã thông thạo hết các môn học vấn thời bấy giờ như văn chương, triết học, toán học, y học… Từ năm 13 tuổi, ngài được truyền thụ võ nghệ. Với sức mạnh phi thường bẩm sinh, ngài nhanh chóng trở thành một chiến binh thiện chiến. Ngài có sở trường bắn cung rất thiện xạ.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Trong một lần tham gia cuộc thi tuyển chọn phò mã, ngài đã thể hiện sức mạnh phi thường khi nâng được chiếc cung rất nặng mà từ trước đến giờ chưa ai trong nước nâng nổi. Sau đó, ngài giương cung bắn xuyên thủng 7 lớp bia đồng đặt cách xa hàng chục mét. Chiến thắng vẻ vang này giúp ngài giành được trái tim của công chúa Da Du Đà La (Yasodhara), con gái của vua nước láng giềng. Họ kết hôn khi ngài vừa tròn 16 tuổi.

Vua cha Tịnh Phạn rất yêu quý con trai. Ngài cung cấp cho thái tử và công chúa những thứ tốt nhất trong đời sống vật chất. Cuộc sống của họ là một chuỗi ngày hưởng lạc tột cùng. Trong 13 năm chung sống, họ có một người con trai đặt tên là La Hầu La (Ràhula). Nhìn bề ngoài, gia đình thái tử là hình mẫu lý tưởng của hạnh phúc trần thế.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Tứ môn du quan và giây phút tỉnh thức

Mặc dù sống trong nhung lụa, thái tử Tất Đạt Đa luôn cảm thấy trong lòng còn một nỗi trăn trở lớn lao. Ngài muốn ra ngoài cung để tận mắt nhìn xem cuộc sống bên ngoài có thực sự hạnh phúc như trong cung điện hay không. Sau nhiều lần thỉnh cầu, vua cha mới đồng ý.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Một ngày nọ, thái tử cho xe đi bốn cửa thành. Ở cửa thành thứ nhất, ngài gặp một cụ già tóc bạc, da nhăn, lưng còng, đi đứng run rẩy. Người đánh xe giải thích rằng đó là hiện tượng của tuổi già, ai rồi cũng phải trải qua. Thái tử vô cùng bàng hoàng, lần đầu tiên ngài nhận ra rằng sức khỏe và sắc đẹp rồi cũng sẽ suy tàn theo thời gian.

Ở cửa thành thứ hai, ngài gặp một người bệnh nằm co ro bên vệ đường, thân thể gầy gò, nước da xanh xao, rên rỉ trong đau đớn. Người đánh xe cho biết đó là người đang chịu đựng bệnh tật. Thái tử lại càng thêm day dứt, nhận ra rằng thân thể con người mong manh và dễ bị tổn thương.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Đến cửa thành thứ ba, ngài bắt gặp một đoàn người khóc lóc đưa một người chết đi chôn. Xác chết nằm trên cáng, máu và nước ứa ra, bốc mùi hôi thối. Người đánh xe nói đó là hiện tượng chết chóc, là điểm cuối của mọi sinh linh. Thái tử cảm thấy sợ hãi và tuyệt vọng trước sự vô thường.

Cuối cùng, ở cửa thành thứ tư, ngài gặp một vị tu sĩ áo vàng, dáng đi ung dung, ánh mắt từ bi, thanh thoát. Người đánh xe nói đó là một vị tu sĩ đang sống đời thanh tịnh, không vướng bận vào danh lợi. Trước hình ảnh vị tu sĩ, thái tử cảm thấy tâm hồn nhẹ nhõm, như tìm được một tia hy vọng.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Bốn hình ảnh này đã in sâu vào tâm trí thái tử. Ngài gọi đó là “Bốn cánh cửa giác ngộ”. Ngài nhận ra rằng, dù là ai, sống trong hoàn cảnh nào, cũng không thể tránh khỏi già, bệnh, chết. Còn con đường giải thoát duy nhất chính là xuất gia tu đạo, tìm cầu chân lý giải thoát khổ đau.

Quyết định từ bỏ cung vàng để tìm chân lý

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Tranhcuộc Đời Của Đức Phật Thích Ca - Một Bậc Thầy Của Chư Thiên Và Loài Người, Không Chỉ Được Nói Đến Trong Kinh Điển Còn Được Các Hậu Thế Sau Này Thể Hiện Dưới Nhiều Hình Thức Nghệ Thuật Như Phim Ảnh, Nhạc, Điêu Khắc, Hội Họa..vv
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Tranhcuộc Đời Của Đức Phật Thích Ca – Một Bậc Thầy Của Chư Thiên Và Loài Người, Không Chỉ Được Nói Đến Trong Kinh Điển Còn Được Các Hậu Thế Sau Này Thể Hiện Dưới Nhiều Hình Thức Nghệ Thuật Như Phim Ảnh, Nhạc, Điêu Khắc, Hội Họa..vv

Sau chuyến du quan, tâm hồn thái tử chìm vào suy tư sâu sắc. Một đêm nọ, ngài trở về cung, nhìn vào phòng ngủ của mình. Trước mắt ngài là cảnh tượng các cung nữ say sưa trong men rượu, thân thể lõa lồ nằm ngổn ngang, những nhạc cụ vương vãi khắp nơi. Cảnh tượng này khiến ngài cảm thấy sự ô uế, vô thường của trần thế. So với hình ảnh vị tu sĩ mà ngài gặp ban ngày, rõ ràng con đường tu tập mới là con đường cao thượng.

Ngài nhẹ nhàng ghé vào phòng của công chúa Da Du Đà La. Lúc đó, công chúa đang chìm trong giấc ngủ. Trên tay bà, La Hầu La cũng đang say giấc nồng. Thái tử đứng lặng yên nhìn vợ con lần cuối, lòng tràn ngập yêu thương nhưng cũng đầy quyết tâm. Ngài không muốn đánh thức họ, vì giây phút chia ly này quá đau đớn. Ngài âm thầm quay lưng, lặng lẽ rời khỏi cung điện.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Tranhcuộc Đời Của Đức Phật Thích Ca - Một Bậc Thầy Của Chư Thiên Và Loài Người, Không Chỉ Được Nói Đến Trong Kinh Điển Còn Được Các Hậu Thế Sau Này Thể Hiện Dưới Nhiều Hình Thức Nghệ Thuật Như Phim Ảnh, Nhạc, Điêu Khắc, Hội Họa..vv
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Tranhcuộc Đời Của Đức Phật Thích Ca – Một Bậc Thầy Của Chư Thiên Và Loài Người, Không Chỉ Được Nói Đến Trong Kinh Điển Còn Được Các Hậu Thế Sau Này Thể Hiện Dưới Nhiều Hình Thức Nghệ Thuật Như Phim Ảnh, Nhạc, Điêu Khắc, Hội Họa..vv

Đêm đó, thái tử Tất Đạt Đa cưỡi ngựa Kiền Trắc (Kantaka), cùng người nô bộc trung thành là Xa Nặc (Channa), lặng lẽ rời khỏi kinh thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) vào giữa đêm khuya. Ngài từ bỏ lại phía sau tất cả vinh hoa phú quý, để đi tìm một con đường mới, con đường giải thoát vĩnh viễn cho chính mình và cho muôn loài chúng sinh.

Tìm thầy học đạo và con đường khổ hạnh

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Tranhcuộc Đời Của Đức Phật Thích Ca - Một Bậc Thầy Của Chư Thiên Và Loài Người, Không Chỉ Được Nói Đến Trong Kinh Điển Còn Được Các Hậu Thế Sau Này Thể Hiện Dưới Nhiều Hình Thức Nghệ Thuật Như Phim Ảnh, Nhạc, Điêu Khắc, Hội Họa..vv
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Tranhcuộc Đời Của Đức Phật Thích Ca – Một Bậc Thầy Của Chư Thiên Và Loài Người, Không Chỉ Được Nói Đến Trong Kinh Điển Còn Được Các Hậu Thế Sau Này Thể Hiện Dưới Nhiều Hình Thức Nghệ Thuật Như Phim Ảnh, Nhạc, Điêu Khắc, Hội Họa..vv

Khi đến bờ sông Anoma, thái tử dừng lại. Ngài cắt bỏ mái tóc dài, trao lại chiến mã Kiền Trắc, tháo bỏ hết trang sức, quần áo sang trọng cho Xa Nặc và dặn dò: “Xa Nặc, hãy mang tất cả về đưa cho phụ vương và cho nàng Da Du Đà La. Hãy thay ta nói lời từ biệt họ. Ta thề, nếu không chứng ngộ chân lý, ta sẽ không trở về”. Nói xong, ngài cởi bỏ y phục hoàng tử, khoác lên mình tấm áo cà sa đơn sơ của người tu sĩ du hành.

Từ đây, thái tử Tất Đạt Đa trở thành một vị Sa môn lang thang. Ngài bắt đầu đi tìm các vị thầy lỗi lạc thời bấy giờ. Trước tiên, ngài đến học với vị thầy Alara Kalama. Chỉ trong thời gian ngắn, ngài đã lĩnh hội được toàn bộ giáo lý cao siêu của thầy. Thầy Alara ngưỡng mộ tài năng của ngài và mời ngài ở lại để cùng điều hành đạo tràng. Tuy nhiên, ngài nhận ra rằng, giáo lý của Alara tuy cao深, nhưng vẫn chưa giúp con người vượt qua được bờ sinh tử, chưa thể diệt tận gốc rễ của khổ đau. Ngài bèn từ biệt, tiếp tục lên đường.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Ngài lại đến học với vị thầy Uddaka Ramaputta. Cũng như lần trước, ngài nhanh chóng tiếp thu được tất cả tri thức của vị thầy này. Uddaka cũng kính nể ngài và mời ngài ở lại cùng điều hành. Nhưng ngài vẫn cảm nhận được rằng, giáo lý này cũng chưa phải là chân lý tối hậu. Ngài lại một lần nữa từ biệt, tiếp tục cuộc hành trình tìm kiếm.

Sau khi học hết các vị thầy, ngài nhận ra rằng, con đường giải thoát không thể tìm thấy ở người khác. Ngài cần phải tự mình thực nghiệm, tự mình tìm tòi. Trên đường đi, ngài gặp năm vị tu sĩ hiền lành, họ cũng đang tìm kiếm đạo giải thoát. Họ kính phục oai đức của ngài và xin được cùng tu tập. Năm vị tu sĩ đó là Kiều Trần Như (Kondanna), Bà Đề (Bhaddiya), Thập Lực Ca (Vappa), Ma Ha Nam (Mahānāma) và Ác Bệ (Assaji). Họ cùng nhau đến một khu rừng để tu khổ hạnh.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Thức tỉnh giữa con đường ép xác

Sáu năm dài, họ cùng nhau thực hành các pháp môn khổ hạnh khắc nghiệt. Họ nhịn ăn, chỉ sống bằng cỏ cây, rễ củ, nước suối. Họ nằm trên gai nhọn, phơi mình dưới trời nắng chang chang, hoặc ngồi thiền dưới nước lạnh buốt. Thể xác họ ngày càng tiều tụy, gầy gò như bộ xương di động, da dẻ xanh xao, mắt trũng sâu. Tuy nhiên, tâm trí họ vẫn không thanh tịnh, vẫn không thể nào vượt qua được những vọng念 và phiền não.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Đến một ngày kia, khi đang ngồi thiền dưới gốc cây, ngài chợt nghe được tiếng đàn vang lên từ xa. Tiếng đàn du dương, trầm bổng, có lúc ngân vang, có lúc du dương êm ái. Ngài chợt liên tưởng đến dây đàn: nếu dây đàn căng quá thì tiếng đàn sẽ quá cao, vỡ âm; nếu dây đàn trùng quá thì tiếng đàn sẽ quá thấp, nghe không rõ. Chỉ khi nào dây đàn ở trạng thái vừa phải, không quá căng cũng không quá chùng thì tiếng đàn mới phát ra được âm thanh trong trẻo, du dương.

Từ sự liên tưởng ấy, ngài bừng tỉnh. Ngài nhận ra rằng, con đường ép xác khổ hạnh mà ngài và năm vị bạn đang tu tập cũng giống như dây đàn quá căng, sớm muộn cũng sẽ đứt. Con đường buông lung theo dục lạc cũng giống như dây đàn quá chùng, không thể phát ra âm thanh. Chỉ có con đường ở giữa, không quá khắt khe, không quá buông thả, mới là con đường đúng đắn. Ngài gọi đó là Trung đạo hay Con đường Trung dung.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Ngài bèn quyết định từ bỏ khổ hạnh, bắt đầu ăn uống điều độ trở lại. Hành động này khiến năm vị bạn đồng tu vô cùng thất vọng. Họ cho rằng ngài đã đánh mất tinh thần tu tập, đã trở nên yếu đuối, không xứng đáng làm bạn tu của họ. Họ bèn bỏ ngài, rời khỏi khu rừng để đi tìm một nơi khác tiếp tục tu khổ hạnh.

Thọ nhận cháo sữa và thệ nguyện dưới cội Bồ đề

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Một ngày nọ, khi ngài đang đi lang thang, kiệt sức vì đói và mệt, một cô thôn nữ tên là Sujata tình cờ đi ngang qua. Nhìn thấy vị sa môn tu khổ hạnh gầy gò, kiệt quệ, lòng cô chợt dâng lên niềm thương cảm sâu sắc. Cô về nhà, bưng đến một bát cháo sữa nóng hổi, thơm phức, dâng lên cho ngài. Ban đầu, ngài còn ngập ngừng, vì đã lâu ngài không ăn gì có chất dinh dưỡng. Nhưng nhìn ánh mắt thành kính, chân thành của cô gái, ngài bèn nhận lấy và dùng hết. Bát cháo sữa ấy như dòng sữa mẹ, nuôi dưỡng lại thể lực cho ngài.

Sau khi thọ thực xong, ngài cảm thấy thể lực dần hồi phục. Ngài đặt chiếc bát xuống dòng sông Ni Liên, rồi thệ nguyện: “Nếu ta không đạt được giác ngộ rốt ráo, ta quyết không đứng dậy và không rời khỏi chỗ này”. Chiếc bát theo dòng nước chảy xuôi, nhưng kỳ lạ thay, nó lại trôi ngược dòng nước về phía thượng nguồn, báo hiệu điềm lành sắp đến.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Ngài băng qua dòng nước, được một anh nông dân tên là Svastika cúng dường một bó cỏ Kusa (một loại cỏ thơm). Ngài dùng bó cỏ làm toạ cụ, trải xuống dưới gốc cây Bồ Đề (Boddhi) ở làng Uruvela. Ngài ngồi xuống, kiết già, lưng thẳng, tâm念 tập trung. Ngài phát nguyện: “Dù thịt nát, xương tan, nếu ta không thành đạo quả, ta quyết không rời khỏi toạ cụ này”.

Chiến thắng ma quân và đạt được giác ngộ hoàn toàn

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Đêm đó, khi ngài đang ngồi thiền, tâm念 thanh tịnh, bỗng nhiên trời đất tối sầm lại. Ma vương Vasavatti (Mara) cùng đoàn tùy tùng đông đảo hiện ra, dùng đủ mọi cách để quấy nhiễu, đe dọa ngài. Chúng dùng gió bão, sấm sét, dao gươm, tên lửa tấn công ngài. Nhưng tất cả những thứ đó khi đến gần ngài đều hóa thành những cánh hoa sen rơi nhẹ xuống đất. Ngài vẫn ngồi đó, an nhiên, bất động như núi Thái Sơn.

Ma vương thấy dùng vũ lực không được, bèn dùng mưu kế. Nó sai ba người con gái xinh đẹp tuyệt trần của mình là Ái Dục, Hối Hận và Ưu Tư đến quyến rũ ngài bằng mọi cách. Chúng múa may, ca hát, dùng ánh mắt, nụ cười, lời nói ngọt ngào để dụ dỗ. Nhưng ngài vẫn như một tảng đá vững chắc giữa biển cả. Ngài dùng tuệ giác soi chiếu, khiến cho dung nhan tuyệt sắc của ba nàng tiên biến thành hình dạng già nua, xấu xí, thối nát. Ba nàng tiên hoảng sợ, bỏ chạy. Ma vương thấy mọi mưu mô, quỷ kế đều thất bại, bèn phải khuất phục, cúi đầu đảnh lễ ngài.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Sau khi chiến thắng ma quân, tâm念 của ngài hoàn toàn trong sạch, không còn vướng bận. Ngài tiếp tục thiền định, lần lượt chứng nghiệm được ba minh:

  • Thiên nhãn minh: Thấy rõ được sự sanh tử, luân hồi của chúng sanh trong sáu cõi.
  • Túc mạng minh: Nhìn thấy rõ được các đời quá khứ của chính mình và của tất cả chúng sanh.
  • Lậu tận minh: Thấu rõ được nguyên nhân của khổ đau (tham, sân, si) và con đường diệt tận khổ đau (Bát Chánh Đạo).

Vào buổi bình minh của ngày trăng tròn tháng 4 năm 588 TCN, khi ánh sao Mai vừa ló dạng, đức Tất Đạt Đa đã hoàn toàn giác ngộ, trở thành một đấng Chánh đẳng, Chánh giác, một vị Phật. Ngài đã tìm ra được chân lý tối hậu, con đường giải thoát khỏi luân hồi sanh tử.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

45 năm hoằng pháp: Chuyển pháp luân và giáo hóa chúng sinh

Chuyển pháp luân tại Lộc Uyển

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Sau khi thành đạo, đức Phật tự hỏi: “Ta nên đem giáo pháp này giảng dạy cho ai trước tiên?”. Ngài nghĩ đến năm vị bạn đồng tu đã từng cùng ngài tu khổ hạnh. Ngài biết họ đang ở tại vườn Lộc Uyển (Isipatana) gần thành Ba La Nại (Benares). Ngài bèn lên đường đi về hướng đó.

Khi năm vị tu sĩ thấy đức Phật từ xa đi đến, họ bàn với nhau sẽ không đứng dậy chào đón, không đảnh lễ, vì họ cho rằng ngài đã từ bỏ lý tưởng khổ hạnh. Nhưng khi đức Phật càng đến gần, oai đức và ánh hào quang từ thân ngài toả ra khiến cho năm vị tu sĩ không thể kiềm chế, họ đồng loạt đứng dậy, đảnh lễ và mời ngài ngồi vào chỗ cao nhất.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Đức Phật bèn giảng bài pháp đầu tiên, gọi là Chuyển pháp luân (Dhammacakkappavattana Sutta). Nội dung chính của bài pháp là Tứ Diệu Đế:

  1. Khổ đế: Khổ là bản chất của cuộc đời (sinh, già, bệnh, chết, oán ghét mà phải gần gũi, yêu thương mà phải xa lìa, cầu mà không được…).
  2. Tập đế: Nguyên nhân của khổ là do tham ái, dục vọng (muốn có, muốn được, muốn chiếm hữu…).
  3. Diệt đế: Có thể diệt tận khổ đau bằng cách đoạn diệt tham ái, đạt đến Niết Bàn (cõi an vui, tịch tĩnh, giải thoát hoàn toàn).
  4. Đạo đế: Con đường dẫn đến diệt khổ là Bát Chánh Đạo (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định).

Nghe xong bài pháp, cả năm vị tu sĩ đều khai tâm, hoan hỷ. Họ xin được xuất gia làm đệ tử đức Phật. Họ trở thành năm vị Tỳ kheo đầu tiên trong lịch sử Phật giáo. Sau này, cả năm vị này đều chứng được quả vị A-la-hán (Arhat), giải thoát hoàn toàn khỏi luân hồi.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Ngày Đại Tự tại (Đại Tăng): Giới luật cho Tăng đoàn

Vào một ngày rằm tháng 6 (ngày Magha), tại vườn tre Veluvana ở thành Vương Xá (Rajagaha), đức Phật đã tụng giới cho một hội chúng gồm 1250 vị Tỳ kheo. Tất cả các vị này đều là bậc A-la-hán, không ai làm thầy. Đức Phật đã dạy bài kệ Tự Quy y, mà tóm tắt nội dung là:

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

“Không làm các điều ác,
Gắng làm các việc lành.
Giữ tâm ý trong sạch.
Chư Phật đều dạy thế”.

Ngày này được gọi là Ngày Đại Tự tại hay Ngày Tăng đoàn, là một trong bốn ngày lễ lớn nhất của Phật giáo. Nó đánh dấu sự hình thành của một Tăng đoàn thanh tịnh, có giới luật rõ ràng, cùng nhau tu tập và hoằng pháp.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Về thăm cố quốc và giáo hóa gia đình

Một thời gian sau, vua cha Tịnh Phạn đã già yếu. Nghe tin đức Phật đang giảng pháp ở thành Vương Xá, vua rất muốn được gặp con trai lần cuối. Vua bèn sai lần lượt 9 vị sứ giả đến mời đức Phật về thăm cố quốc Ca Tỳ La Vệ. Tuy nhiên, cả 9 vị sứ giả này khi đến nơi, nghe được Phật thuyết pháp, đều hoan hỷ xin xuất gia và nhanh chóng chứng quả A-la-hán. Đến vị sứ giả thứ 10 tên là Kaludayi, trước đây từng là bạn thân của đức Phật khi ngài còn là thái tử. Sau khi nghe Phật thuyết pháp, ông cũng xin xuất gia và đắc quả A-la-hán, nhưng cũng không quên chuyển lời của vua cha đến đức Phật. Đức Phật nghe xong đã nhận lời và cùng các thánh đệ tử lên đường về thăm gia đình.

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Khi đoàn người của đức Phật vừa đến gần kinh thành, vua Tịnh Phạn cùng quần thần và dân chúng đã ra tận cổng thành để đón rước. Cảnh tượng vô cùng long trọng và cảm động. Đức Phật cùng vua cha và hai vị đại đệ tử là Xá Lợi Phất (Sariputta) và Mục Kiền Liên (Moggalana) cùng đi vào hoàng cung.

Ngày thứ hai sau khi về thăm nhà, vua cha mở tiệc thọ trai tại hoàng cung và mời đức Phật cùng các thánh đệ tử. Sau bữa trai tăng, đức Phật cùng vua cha và hai vị đại đệ tử đến phòng của công chúa Da Du Đà La. Sau khi công chúa đảnh lễ ngài, đức Phật đã ngồi xuống chỗ đã được sắp sẵn. Ngài kể cho công chúa nghe một chuyện tiền thân (Bổn sanh), trong đó ngài và công chúa có duyên nợ với nhau từ nhiều đời trước. Ngài khen ngợi công chúa: “Không phải chỉ trong kiếp sống cuối cùng của Như Lai mà trong tiền kiếp, nàng đã bảo vệ, kỉnh mộ và trung thành với Như Lai”. Sau đó ngài an ủi công chúa và giã từ hoàng cung. Về sau, công chúa Da Du Đà La cũng xuất gia theo đức Phật, tinh tấn tu tập và đã chứng đắc quả vị A-la-hán. Trong hàng các vị Tỳ kheo ni, bà Da Du Đà La đã chứng đắc thần thông bậc cao nhất (Maha Abhinna).

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Bằng Tranh

Hoàng tử Nanda và bài học buông bỏ

Cũng trong dịp này, hoàng tử Nanda (Ananda), em trai cùng cha khác mẹ với đức Phật, đang chuẩn bị tổ chức lễ cưới. Trong lễ cưới, đức Phật trao cho Nanda một chiếc bát và đọc kinh cầu phúc. Sau đó, ngài vờ như quên chiếc bát lại và đi về tịnh xá. Nanda vì kính nể anh mình nên phải ôm bát đi theo. Về đến tịnh xá, đức Phật hỏi Nanda có muốn xuất gia không. Nanda vì nể nang nên miễn cưỡng đồng ý, nhưng trong lòng thì lúc nào cũng nhớ đến người vợ trẻ đẹp mới cưới của mình.

Đức Phật biết rõ điều này nên một hôm đã dùng thần thông dẫn Nanda đi dạo lên cõi trời. Trên đường đi, Nanda thấy một con khỉ cái bị cháy xém đang bám trên một cành cây khô. Khi lên đến cung trời Đâu Suất, Nanda lại thấy vô vàn tiên nữ với vẻ đẹp tuyệt trần, y phục lộng lẫy, đang ca múa vui vẻ. Đức Phật chỉ vào đám tiên nữ và hỏi Nanda: “Này Nanda, so với những tiên nữ này thì vợ mới cưới của ngươi thế nào?”. Nanda ngập ngừng đáp: “Bạch Thế Tôn, nếu đem so với những tiên nữ này thì vợ con xấu xí như con khỉ cái bị cháy kia”. Đức Phật mỉm cười và bảo: “Nếu ngươi kiên trì thực hành giáo huấn của Như Lai thì sau này ngươi sẽ có nhiều cung tần mỹ nữ đẹp như thế này”. Nanda nghe nói thế trong lòng vô cùng phấn chấn, quyết tâm tu tập.

Tuy nhiên, các vị Tỳ kheo khác biết chuyện, bèn chê cười Nanda vì mục đích tu tập quá thấp hèn, chỉ vì ham muốn sắc dục. Nanda nghe vậy mới tỉnh ngộ, nhận ra sự xấu xa, thấp kém của lòng tham dục. Ngài quyết tâm buông bỏ những tư tưởng xấu xa, tinh tấn nỗ lực tu tập. Về sau, ngài chứng được quả vị A-la-hán, trở thành một vị đại A-la-hán nổi tiếng.

La Hầu La: Hoàng tử xuất gia và bài học về Chân lý

Vào ngày thứ bảy khi đức Phật lưu lại quê nhà, công chúa Da Du Đà La đã cho La Hầu La (Rahula) mặc y phục chỉnh tề và dặn dò: “Con hãy đến bên đức Phật xin tài sản của cha con đi”. La Hầu La lúc ấy mới 7 tuổi, là con trai duy nhất của đức Phật, nghe lời mẹ bèn đi đến chỗ đức Phật.

La Hầu La đứng trước mặt đức Phật, chắp tay bạch rằng: “Xin ngài hãy trao tài sản của ngài cho con, vì tài sản của ngài cũng là của con”. Đức Phật nghe vậy, trong lòng nghĩ thầm: “Nó muốn tài sản của cha, nhưng tài sản thế gian thì đầy phiền não. Như Lai sẽ ban cho nó tài sản cao thượng gồm bảy pháp bảo mà Như Lai đã thâu đạt được dưới cội bồ đề. Như Lai sẽ giúp nó trở thành sở hữu chủ của một gia tài siêu thế”.

Thế rồi đức Phật không ban vàng bạc châu báu, mà ngài làm lễ xuất gia cho La Hầu La, cho cậu bé theo ngài Xá Lợi Phất thọ giáo. La Hầu La trở thành vị Sa di (tiểu Tỳ kheo) đầu tiên trong lịch sử Phật giáo. Ngài Xá Lợi Phất và ngài Mục Kiền Liên tận tình chỉ dạy cho La Hầu La về giới luật, về oai nghi, tế hạnh và giáo pháp. Dần dần, La Hầu La trưởng thành, trở thành một vị Tỳ kheo nghiêm túc, tinh tấn tu tập và sau này cũng chứng được quả vị A-la-hán.

Vua Tịnh Phạn và giờ phút lâm chung

Khi vua Tịnh Phạn hấp hối, đức Phật đã đến bên giường bệnh của cha. Ngài giảng pháp lần cuối cùng cho vua cha, giảng về vô thường, về khổ, về vô ngã. Vua Tịnh Phạn nghe xong, tâm念 bừng tỉnh, lập tức chứng được quả vị A-la-hán, đoạn diệt hoàn toàn phiền não. Sau khi hưởng sự an lạc của bậc Thánh được 7 ngày, vua Tịnh Phạn nhẹ nhàng nhắm mắt, nhập Niết Bàn trong chánh niệm.

Câu Thi Na: Những tháng ngày cuối cùng

Khi tròn 80 tuổi, đức Phật biết rằng việc thuyết pháp giáo hóa chúng sanh của mình đã viên mãn. Đó là lúc Như Lai sẽ nhập Niết Bàn. Ngài đã nói với ngài A Nan là ba tháng nữa ngài sẽ nhập diệt. A Nan thành khẩn cầu xin đức Phật ở lại với thế gian thêm một kiếp nữa để tiếp tục độ sanh. Nhưng đức Phật đã từ chối và giảng giải về luật vô thường: “Tất cả những gì sinh ra đều phải diệt. Như Lai đã dùng thần thông lực để duy trì sự sống thêm ba tháng nữa, nay đã đủ. Hãy để Như Lai an nghỉ”.

Từ thành Tỳ Xá Ly (Vaisali), đức Phật đã cùng với A Nan và các thánh chúng đệ tử đi đến thành Câu Thi Na (Kusinara). Trên đường đi, đức Phật vẫn không ngừng giảng pháp, giáo hóa chúng sanh rất nhiều nơi. Ngài giảng cho các vị vua chúa, các vị Bà-la-môn, các vị trưởng giả, các vị tu sĩ ngoại đạo, các vị nô lệ và cả những người cùng khổ nhất. Ngài giảng về lòng từ bi, về sự bình đẳng, về con đường giải thoát. Lòng từ bi của ngài không phân biệt đẳng cấp, màu da, hay tôn giáo.

Khi đến làng Pava, đức Phật và các thánh đệ tử được một người thợ rèn tên là Thuần Đà (Cunda) thành kính thỉnh về nhà cúng dường trai tăng. Thuần Đà hết sức cung kính, làm nhiều món ăn ngon. Ông còn làm riêng cho đức Phật một món đặc biệt là sùkaramaddava (món ăn đặc biệt từ thịt heo hoặc một loại nấm đặc biệt, tùy theo truyền thống). Đức Phật nhìn thấy món ăn liền dùng tay ngăn lại, không cho các đệ tử dùng và nói: “Chỉ có Như Lai mới ăn và tiêu hóa được thức ăn này mà thôi”.

Sau khi thọ trai xong, đức Phật bị kiết lỵ rất nặng. Tuy cơ thể vô cùng mệt mỏi, nhưng thần trí ngài vẫn minh mẫn, bình thản. Ngài vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Trên đường đi, đức Phật tắm lần cuối cùng ở sông Kakutthi. Sau khi nghỉ một lát, Ngài gọi đại đức A Nan đến gần và dặn dò: “Có thể có người trách Thuần Đà về bữa cơm cuối cùng dọn cho Ta, vì sau bữa ăn đó Ta sẽ nhập Niết Bàn, và Thuần Đà có thể ân hận. Nhà ngươi cần nói cho Thuần Đà biết rằng, có hai bữa ăn cúng dường cho Như Lai, đem lại công đức lớn nhất cho người cúng dường. Đó là bữa ăn cúng dường Như Lai trước giờ Như Lai thành đạo và bữa ăn cúng dường Như Lai trước giờ Như Lai

Cập Nhật Lúc Tháng 12 11, 2025 by Đội Ngũ Chùa Phật Ân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *